mở đầu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài gồm các nội dung như: lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn cũng như cấu trúc chung của đề tài. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu và tìm hiểu về cơ sở dữ liệu ảnh thường và ảnh nhiệt. Những kiến thức cơ bản này là tiền đề để áp dụng vào việc xây dựng đa mô hình dựa trên hai nguồn dữ liệu (ảnh thường và ảnh nhiệt). Cơ sở lý thuyết Chương này giới thiệu lý thuyết về mạng CNN, kỹ thuật học chuyển giao, mô mình mạng pre-trained và độ đo đánh giá mô hình.
Uớc lượng cảm xúc của người dựa trên ảnh thường và ảnh nhiệt 5 Chương này vận dụng những kiến thức đã nêu ở chương một và chương hai để xây dựng đa mô hình phân lớp từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau và hợp nhất quyết định sau mỗi nguồn được phân loại riêng lẻ nhằm nâng cao độ chính xác. Thực nghiệm và đánh giá Chương này phân tích về những ưu điểm, nhược điểm, so sánh và đánh giá kết quả mô hình ước lượng cảm xúc trên ảnh thường, ảnh nhiệt và mô hình kết hợp. Kết luận và hướng phát triển Chương này tổng kết lại những gì đã đạt được và chưa đạt được trong luận văn để từ đó đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo để nâng cao độ chính xác về bài toán ước lượng cảm xúc của con người. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan Trong các bài toán phân tích cảm xúc hay ước lượng cảm xúc đều có ba bước chính: phát hiện khuôn mặt, rút trích đặc trưng và phân loại cảm xúc. Trong rút trích đặc trưng, ta có thể phân loại làm hai nhánh chính đó là phương pháp dựa trên đặc trưng biểu hiện (hình dạng) và phương pháp dựa trên đặc trưng hình học. Bản chất của rút trích đặc trưng là tìm ra một ánh xạ sao cho hỗ trợ việc phân loại cảm xúc tốt nhất. Phương pháp rút trích đặc trưng dựa trên hình học, trích xuất thông tin đặc trưng bằng hình dạng, khoảng cách và vị trí của các thành phần trên khuôn mặt.
Công việc đầu tiên trong lĩnh vực này là hệ thống mã hóa hành động mặt (FACS), được thiết kế bởi Ekman [11]. FACS mã hóa một biểu hiện khuôn mặt trong 44 đơn vị hành động trên khuôn mặt (AU). Ngoài ra các phương pháp dựa trên đặc trưng hình học còn sử dụng mô hình Active Appearance Model (AAM) hoặc các biến thể của nó. Vị trí của các vùng trên khuôn mặt này sau đó được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trích xuất hình dạng các đặc điểm khuôn mặt và chuyển động các đặc điểm khuôn mặt khi cảm xúc thay đổi.
Choi và cộng sự [12] sử dụng AAM với sự giảm thiểu bậc hai, và một perceptron đa lớp, để nhận biết biểu hiện khuôn mặt. Một ví dụ gần đây về kỹ thuật dựa trên AAM để nhận dạng biểu hiện khuôn mặt được trình bày trong [13], trong đó các thuật toán cải tiến AAM khác nhau được so sánh và đánh giá. Trong [14], [15] các tác giả cũng đã đưa ra một cách tiếp cận dựa trên đặc trưng hình học để lập mô hình, theo dõi và nhận dạng các biểu hiện khuôn mặt. Ví dụ về đặc trưng hình học của mặt gồm lông mày, mắt, mũi, miệng [17] Các đặc trưng dựa trên hình học mô tả hình dạng của khuôn mặt và các thành phần của khuôn mặt trong khi các đặc điểm dựa trên đặc trưng thể hiện được tạo ra từ biểu hiện trên khuôn mặt.
Các đặc trưng xuất hiện đã được sử dụng thành công để nhận dạng cảm xúc như toán tử mô hình nhị phân cục bộ (LBP) [16], biểu đồ của gradient định hướng (HOG) [17, 18], cục bộ mô hình định hướng (LDP) [19], thông tin kết cấu dựa trên bộ lọc Gabor [20], phân tích thành phần chính (PCA) [21] và phân tích phân biệt tuyến tính (LDA) [22]. Những tiến bộ gần đây trong ảnh hồng ngoại nhiệt đã giúp chúng ta có được tín hiệu sinh lý, nhiệt độ cơ thể, thông qua các phương tiện không xâm nhập và không tiếp xúc [23]. Khi một cảm xúc xảy ra, nhiệt độ trên khuôn mặt xuất hiện do lưu lượng máu mà cơ thể phát ra qua các mạch máu ở dưới da [24], sự thay đổi này có thể đủ điều kiện và định lượng để có thể nghiên cứu cảm xúc thông qua ảnh nhiệt.Khan và các cộng sự của ông [25] đề xuất sử dụng các điểm đặc trưng nhiệt mặt (FTFP) tỷ lệ chính xác dao động từ 66,3% đến 83,8% với năm loại cảm xúc. Di Giacinto cùng cộng sự [26] khám phá cảm xúc sợ hãi ở những bệnh nhân bị rối loạn stress sau chấn thương 8 (PTSD).
Nó cho thấy rằng nhiệt độ trên mặt ở bệnh nhân PTSD là thấp hơn so với những người được kiểm soát. Trong [27] các tác giả phân loại các cảm xúc bất ngờ, hạnh phúc, bình thường từ hai yếu tố đầu vào. Dữ liệu đầu vào đầu tiên bao gồm các lựa chọn của một tập hợp các vùng thích hợp khi thực hiện trích xuất đặc trưng, đầu vào thứ hai là ma trận hiệp phương sai mức xám được sử dụng để tính toán các bộ mô tả vùng của ảnh nhiệt. Liu và Wang [28] đã phân tích dữ liệu chuỗi nhiệt độ mặt, tính toán thống kê và các tính toán biểu đồ khác biệt về nhiệt độ.
Hơn nữa, mô hình Hidden Markov (HMM) được sử dụng để phân biệt hạnh phúc, ghê tởm và sợ hãi với tỷ lệ công nhận tương ứng là 68,11%, 57,14% và 52,30%. Họ đã sử dụng các mẫu từ cơ sở dữ liệu NVIE (biểu hiện trên khuôn mặt tự nhiên và hồng ngoại) để đánh giá kết quả.H và cộng sự [29] đề xuất phương pháp kết hợp ảnh nhìn thấy và chuỗi ảnh nhiệt để ước lượng bảy cảm xúc cơ bản. Kết quả được đánh giá với hai phương pháp phân loại t-PCA và n-EMC trên tập cơ sở dữ liệu KTFE.Chau [30] nhận dạng cảm xúc dựa trên phân tích tần số thời gian từ chuỗi thời gian trung bình của năm vùng quan tâm trên mặt nhiệt. Shan He và các cộng sự [31] đề xuất phương pháp nhận dạng cảm xúc với Deep Boltzmann Machine (DBM) trên cơ sở dữ liệu NVIE đạt tỷ lệ công nhận là 51,3%.
Trong bài báo [32], một phương pháp nhận dạng cảm xúc dựa vào vùng quan tâm (ROI), như hình 3, và phân loại bằng cách sử dụng SVM nhiều lớp. Thuật toán được kiểm tra trên cơ sở dữ liệu KTFE công nhận năm cảm xúc cơ bản gồm tức giận, sợ hãi, hạnh phúc, buồn và bình thường với độ chính xác 87,50%. Trích xuất ROI trong phương thức [32] Trong nghiên cứu [33], nhóm Wang đã đề ra thuật toán như Hình 1. Tuy nhiên, thuật toán này có những ràng buộc ban đầu để xác định ví trị mắt mũi miệng cho phần rút trích đặc trưng.
Thuật toán xác định cảm xúc [33] Trong nghiên cứu công bố vào cuối năm 2018, nhóm Basu [34] đã đưa ra hệ thống phân loại đặc trưng của cá nhân như P, E hay N dựa vào mô hình của Eysenck. Hệ thống sử dụng mô hình kết hợp ảnh thường và ảnh nhiệt 10 trong đó ảnh nhiệt sử dụng mô hình mạch máu. Mô hình Markov ẩn dùng để tìm ra thể hiện cảm xúc với đặc trưng kết hợp được rút trích ở trên. Mặc dù kết quả đạt khá cao với gần 90% cho việc phân loại cảm xúc nhưng nhóm tác giả chỉ thực hiện trên 4 cảm xúc cơ bản dễ phân loại.
Ngoài ra, một điểm yếu của nghiên cứu này là việc giới hạn về số dữ liệu. Trong năm 2018, nhóm Wang [35], cũng đề ra một phương pháp dựa trên mô hình học sâu và SVM để phân loại cảm xúc. Mục đích của nhóm hướng tới nhu cầu thực tế với việc chi phí cho camera nhiệt rất tốn kém nên việc huấn luyện được thực hiện với cả dữ liệu ảnh thường và ảnh nhiệt nhưng việc kiểm tra được thực hiện chỉ với dữ liệu ảnh thường. Trong nghiên cứu [36], nhóm Thu Nguyen đề xuất một phương pháp trích xuất các vùng quan tâm (ROI) trên dữ liệu ảnh nhiệt.
Sau đó tiến hành ước lượng cảm xúc với các phương pháp kinh điển trong lĩnh vực thị giác máy tính bao gồm: PCA, EMC và kết hợp PCA-EMC trên cơ sở dữ liệu KTFE đạt tỷ lệ công nhận tương ứng là 90,42%, 89,99%, 85,94%. Một số thách thức trong lĩnh vực nghiên cứu nhận dạng cảm xúc của con người Từ tổng quan các kết quả nghiên cứu đạt được của các nhóm nghiên cứu đã có rất nhiều kết quả khả quan và ứng dụng được trong bài toán thực tế. Tuy nhiên, với những hệ thống này thường nhận dạng trên ảnh thường. Điều đó dẫn đến kết quả không chính xác trong những trường hợp như thiếu ánh sáng, ảnh bị mờ, màu da hoặc đối với người không thể hiện biểu cảm trên khuôn mặt nên khó phát hiện được cảm xúc.
Đây là thách thức lớn đòi hỏi cần có những hướng nghiên cứu và tiếp cận mới để khắc phục những hạn chế của ảnh nhìn thấy được nhằm tăng tỉ lệ chính xác hơn trong ước lượng cảm xúc. Đối với ảnh nhiệt cũng gặp phải một số hạn chế như nhiệt độ cơ thể thay đổi khi đối tượng tập thể dục hoặc nhiệt độ môi trường xung quanh. Ngoài ra 11 khi đối tượng đeo kính (Eyeglass) sẽ dẫn đến mất thông tin hữu ích xung quanh khuôn mặt nhiệt bởi vì vật liệu thủy tinh ngăn chặn phần lớn năng lượng nhiệt. Ngoài ra, việc kết hợp các phương pháp khác nhau để nhận dạng cảm xúc giúp cải thiện tỷ lệ chính xác hơn cũng là một bài toán cần được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
Sơ lược về cơ sở dữ liệu cảm xúc Nhận dạng khuôn mặt người, phân tích cảm xúc và tương tác giữa người và máy ngày càng được quan tâm, số lượng cơ sở dữ liệu sinh ra để phục vụ cho việc nghiên cứu về nhận dạng khuôn mặt và cảm xúc ngày càng nhiều nhưng phổ biến ở cơ sở dữ liệu ảnh thường như CK+ [37], Fer2013 [38] và còn nhiều cơ sở dữ liệu cảm xúc khác [39], cơ sở dữ liệu cảm xúc thường được tạo ra trong phòng thí nghiệm nên hầu như cảm xúc được thể hiện một cách sắp đặt (posed) và thể hiện quá mức. Cơ sở dữ liệu FACES [39] thể hiện 6 loại cảm xúc: bình thường, giận dữ, hạnh phúc, buồn rầu, sợ hãi và ghê tởm.