Chương 1 là phần cơ sở lý thuyết. Nội dung chủ yếu là tóm tắt, phân loại các hệ tư vấn. Trong Chương 2, chúng tôi trình bày về mô hình tư vấn không tương tác giữa các tiêu chí. Cuối cùng là phần thử nghiệm cho dữ liệu y tế được trình bày trong Chương 3.
Định nghĩa và mục tiêu của hệ tư vấn 1.1 Định nghĩa Hệ tư vấn là công cụ phần mềm trong các ứng dụng hoặc trang web mà nó sử dụng các loại tri thức và dữ liệu khác nhau (ví dụ: sở thích, hành động của người dùng và thông tin theo ngữ cảnh) để đề xuất các mục (ví dụ: sản phẩm, dịch vụ) có thể hữu ích cho người dùng cuối [13]. Mục tiêu của hệ tư vấn Sự tăng trưởng nhanh và đa dạng của các thông tin có sẵn trên Internet cũng như sự phát triển của nhiều dịch vụ thương mại điện tử thường khiến cho người dùng bị quá tải, dẫn đến họ có thể không đưa ra các quyết định đúng đắn. Hệ tư vấn đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng kể từ khi xuất hiện những bài báo đầu tiên về lọc cộng tác vào giữa những năm 90. Mục tiêu của việc phát triển hệ tư vấn là giảm tình trạng quá tải thông tin bằng cách truy tìm thông tin và dịch vụ có liên quan nhất từ một lượng lớn dữ liệu để dự đoán các giá trị xếp hạng của một cá nhân hay nhóm cho một mục cụ thể và/hoặc đưa ra gợi ý (đề xuất) các mục được xếp hạng cao nhất cho cá nhân hay nhóm.
Bên cạnh đó, hệ tư vấn cũng quan tâm đến các yếu tố như tính có liên quan, tính mới lạ, tính đa dạng, tính may mắn khi thực hiện đề xuất. Tính có liên quan: các mục gợi ý có liên quan đến người dùng. Tính mới lạ: các mục gợi ý khác với những mục mà người dùng đã đánh giá hay mua trong quá khứ. Tính may mắn (serendipity): các mục gợi ý thực sự gây ngạc nhiên cho người dùng chứ không chỉ đơn giản là một điều mà họ không biết trước đây.
Tính đa dạng: danh sách gợi ý chứa các mục khác nhau để đảm bảo 8 rằng người dùng không bị chán bởi sự gợi ý lặp lại các mục tương tự. Mô hình hệ tư vấn Dữ liệu đầu vào của một hệ tư vấn có thể ở nhiều dạng khác nhau như: dữ liệu người dùng, dữ liệu mục (ví dụ: dữ liệu sản phẩm), dữ liệu giao dịch, dữ liệu ngữ cảnh, v. Với hai mục tiêu chính như đã trình bày ở trên và tùy thuộc vào loại dữ liệu, hệ thống sẽ sử dụng một kỹ thuật phù hợp để đưa ra kết quả tư vấn. Các kỹ thuật được sử dụng có thể là: lọc cộng tác, dựa trên nội dung, dựa trên tri thức, v.
Mô hình cơ bản của các hệ tư vấn thường sử dụng dữ liệu giao dịch, (chẳng hạn như các hành vi mua hàng hóa hay xếp hạng cho một sản phẩm), và các thuộc tính về người dùng và mục. Bài toán tư vấn cơ bản có thể được hình thức hóa như sau [13]: Gọi là tập hợp tất cả người dùng. Gọi là tập hợp tất cả các mục. Gọi (với là một tập hợp có thứ tự hoàn toàn) là một hàm tiện ích đo tính hữu dụng của một mục cụ thể cho một người dùng.
Sau đó, với từng người dùng , ta cần chọn một mục sao cho tối đa hóa tiện ích của người dùng. Bài toán tư vấn hai chiều truyền thống trên được mở rộng thành bài toán tư vấn nhiều chiều nếu có thêm các loại dữ liệu đầu vào khác. Ví dụ, với các hệ tư vấn dựa trên ngữ cảnh thì hàm tiện ích sẽ có dạng: trong đó là tập các tình trạng ngữ cảnh. Dữ liệu đầu vào của hệ tư vấn Hệ tư vấn sử dụng các dữ liệu như: xếp hạng/đánh giá của người dùng cho các mục, mô tả người dùng, mô tả mục, các ràng buộc, hoặc các mối quan 9 hệ xã hội hay các hoạt động của người dùng, v.
Từ sự tham khảo các tài liệu [10], luận văn này phân các dữ liệu đầu vào thành những nhóm sau: Dữ liệu mục. Các mục có thể được đặc trưng bởi tính phức tạp và giá trị hoặc tiện ích của chúng. Ví dụ, mục "sách" được mô tả bằng các thuộc tính như tiêu đề, thể loại, tác giả, giá và từ khoá. Mục có thể được biểu diễn bằng nhiều cách khác nhau chẳng hạn như dùng một tập các thuộc tính giống ví dụ trên hay đơn giản chỉ dùng một mã nhận dạng mục.
Dữ liệu người dùng. Thông tin người dùng có thể được biểu diễn chỉ bằng một mã nhận dạng hoặc một tập các thuộc tính, ví dụ như tập các thuộc tính nhân khẩu học gồm tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và nền tảng giáo dục. Thông tin về người dùng có thể được cấu trúc theo nhiều cách. Việc sử dụng thông tin nào của người dùng phụ thuộc vào kỹ thuật đề xuất.
Dữ liệu giao dịch (các tương tác giữa người dùng và hệ thống được ghi lại). Các giao dịch lưu trữ những thông tin quan trọng được tạo ra trong quá trình tương tác giữa người dùng và máy tính. Trong đó, các xếp hạng (những phản hồi của người dùng cho các mục đã chọn) là dạng dữ liệu giao dịch phổ biến nhất mà hệ tư vấn thu thập và sử dụng. Các xếp hạng này có thể được thu thập tường minh hoặc không tường minh.
Chúng có thể có nhiều dạng khác nhau như: số, thứ tự, nhị phân, hoặc đơn (nhất phân). Cơ sở tri thức. Các cơ sở tri thức có thể được lấy từ thông tin có sẵn công khai, các chuyên gia lĩnh vực, kinh nghiệm trong quá khứ, hoặc việc khai phá dữ liệu các tập giao dịch lịch sử. Thông tin ngữ cảnh.
Đây là các thông tin bổ sung nhằm xác định tình huống cụ thể (mô tả hoàn cảnh của một thực thể) mà theo đó các đề xuất được đưa ra. Chúng có thể là thông tin vị trí, thông tin về thời gian hoặc thông tin xã hội. Đặc tả của người dùng. Thay vì sử dụng lịch sử của người dùng, một 10 số kỹ thuật tư vấn cho phép họ tương tác với hệ thống qua việc xác định và điều chỉnh các yêu cầu.
Lưu ý rằng, với từng cách tiếp cận tư vấn, một số nhóm dữ liệu chứ không phải tất cả các nhóm sẽ được sử dụng. Ví dụ: hệ tư vấn lọc cộng tác sử dụng dữ liệu giao dịch; hệ tư vấn dựa trên tri thức sử dụng đặc tả của người dùng, dữ liệu mục và cơ sở tri thức. Dữ liệu đầu ra của hệ tư vấn Dữ liệu đầu ra của một hệ tư vấn có thể ở những dạng sau: Các xếp hạng được dự đoán. Hệ thống dự đoán giá trị xếp hạng của một người dùng (hoặc nhóm người dùng) cho một mục cụ thể.
Danh sách những mục (hoặc những người) được gợi ý. Hệ thống đề xuất những mục được xếp hạng cao nhất cho một người dùng cụ thể (hoặc xác định những người dùng được xếp hạng cao nhất cho một mục cụ thể). Quy trình phát triển hệ tư vấn Quy trình phát triển một hệ tư vấn gồm các bước chính sau: Thu thập dữ liệu. Lọc dữ liệu bằng một kỹ thuật lọc phù hợp, ví dụ: dựa trên cộng tác, dựa trên nội dung, dựa trên tri thức, v.
Kỹ thuật lọc phụ thuộc vào loại dữ liệu mà hệ tư vấn đang xử lý và loại gợi ý mà nó dự định sinh ra. Xếp hạng các mục được gợi ý. Trình bày tập các gợi ý được xếp hạng cao nhất cho người dùng. Ngoài ra, sau khi có được phản hồi của người dùng về các gợi ý trước đó, hệ tư vấn còn cho phép lặp lại những bước trên nhằm tìm ra các gợi ý mới hoặc tốt hơn.
Phân loại hệ tư vấn Các hệ tư vấn có thể được phân loại theo kỹ thuật (phương pháp) tư vấn, tính chất của dữ liệu, hoặc lĩnh vực ứng dụng.1 trình bày các 11 cách phân loại và các tiêu chí của từng cách. Nhìn chung, các kỹ thuật tư vấn có thể chia thành hai lớp chính: lớp các phương pháp cơ bản (hay truyền thống) như dựa trên nội dung, lọc cộng tác, và dạng lai; và lớp các phương pháp phát triển gần đây (hay tiên tiến) như dựa trên ngữ cảnh hay dựa trên nhóm [10][18]. Rất nhiều nghiên cứu đã phân loại các hệ tư vấn theo kỹ thuật tư vấn. Ví dụ: phân loại các hệ tư vấn thành các nhóm: dựa trên nội dung, lọc cộng tác, và dạng lai; [9] phân loại các hệ tư vấn thành các nhóm: dựa trên nội dung, lọc cộng tác, nhân khẩu học, dựa trên tri thức, và dạng lai; phân loại các hệ tư vấn thành các nhóm: dựa trên nội dung, lọc cộng tác, nhân khẩu học, dựa trên tri thức, dựa trên cộng đồng, và dạng lai; phân loại các hệ tư vấn thành các nhóm: dựa trên nội dung, lọc cộng tác, dựa trên tri thức, dựa trên niềm tin, và dựa trên nhận thức bối cảnh (ngữ cảnh); [18] phân loại các hệ tư vấn thành các nhóm: dựa trên nội dung, lọc cộng tác, dựa trên tri thức, dạng lai, dựa trên tập mờ, dựa trên mạng xã hội, dựa trên nhận thức bối cảnh, và gợi ý nhóm.
Cùng với sự phát triển của công nghệ, các hệ tư vấn cũng tiến hóa theo, từ đó dẫn đến số nhóm phân loại cũng được cập nhật. Lớp các kỹ thuật cơ bản cơ bản được sử dụng để xây dựng các nhóm hệ tư vấn: dựa trên nội dung, lọc cộng tác, nhân khẩu học, dựa trên tri thức và dạng lai. Lớp các kỹ thuật phát triển gần đây được sử dụng để xây dựng các nhóm hệ tư vấn: dựa trên xã hội, dựa trên ngữ cảnh, và gợi ý nhóm. Ở cách phân loại theo tính chất dữ liệu, hạt nhân của sự phân loại tập trung vào ba yếu tố: (1) mục tiêu của dữ liệu: người dùng hoặc mục; (2) phương thức thu thập: tường minh (những đánh giá cho các mục được thực hiện bởi người dùng) hoặc không tường minh (ví dụ: số lần người dùng đã xem một bộ phim); và (3) mức thông tin: bộ nhớ, nội dung hoặc ngữ cảnh xã hội [16].
Sau khi xác định dữ liệu của một hệ tư vấn theo ba yếu tố trên và tùy 12 thuộc vào sự kết hợp của những yếu tố này mà kỹ thuật tư vấn phù hợp sẽ được sử dụng.