Chương I: Tổng quan về mường Ngân, tỉnh Xay Nhạ Bu Ly, Cong hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chương 2: Trang phục truyền thống của người Hmông Xanh ở. mường Ngân, tỉnh Xay Nhạ Bu Ly Chương 3: Biến đổi trang phục của người Hmông Xanh và những. vấn đề đặt ra hiện nay " Chương L ‘TONG QUAN VỀ MUONG NGAN, TINH XAY NHA BU LY CONG HOA DAN CHỦ NHAN DAN LAO.
Khái niệm về trang phục và khái quát chung về mường Ngân, tinh Xay Nhạ Bu Ly, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 1. Khái niệm về trang phục. Theo từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa thì: "Trang phục là quần áo dùng riêng cho một ngành, một nghề nào đó” hoặc “Trang phục là ăn mặc theo lối riêng trong một ngành một nghề nào đó” [28. tr23] Còn theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì định nghĩa: “Trang phục là quần áo mặc ngoài nói chung” [17, tr.35] “Trang phục hay y phục là những đi để đội như mũ, nón, khăn.
và để đi như giầy, dép, ủng. Ngoài ra, trang phục. còn có thê thêm thắt lưng, găng tay, đồ trang sức” [3]. Thuật ngữ Trang phục được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu của cắc học giả khác nhau.
Tuy theo mục đích nghiên cứu mà có những, cách cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau, do vậy mà có những khái niệm. khác nhau về trang phục mà không hề phủ nhận lẫn nhau. Luận văn đồng tình với khái niệm: Trang phục là những phương tiện vật chất bao gồm y phục, trang, sức được con người sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu và các hoạt động văn hóa xã hội khác; thể hiện cách ứng, xử văn hóa trong mối quan hệ của con người với môi trường tu nhiên và môi trường xã hội, nhằm thoả mãn các chức năng: sinh. học, xã hội và thẩm mỹ của con người [27, tr.48] 12 'Những quy ước, tập quán chung của từng cộng đồng.
Về sau, các thị tộc - bộ tộc đã sing tạo ra cách tạc hẳn vào cơ thể (như xăm mặt - xăm minh, cắt tóc và tết tóc, cà răng, căng tai v.) để giữ được tín hiệu lâu bền hơn. Khi y phục ra đời thay thế cho các hình thức trang điểm nói trên, cũng là các cấu hiệu của cộng đồng. Y phục, ngoài những chức năng mới như: bảo vệ sức khoẻ, tôn vinh con người, phân biệt giới tính, địa vị xã hội nó vẫn không xa. rời chức năng phân biệt giữa các tộc người.
“Theo giáo trình Thiết kế quân áo của TS.Trần Thủy Bình thì: “Trang phục bao gồm: quân, váy, áo, giày, mũ, gắng tay, tắt.trong đó phần chính là quần áo (bao gồm: quản, váy, áo và các sản phẩm phối hop). 'Quần áo được hiểu là một sản phẩm hoặc một bộ sản phẩm nhằm che phủ và bảo vệ cơ thể con người” [4, tr. Nguồn gốc trang phục xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, phản ánh tiến trình phát triển của xã hội loài người, trang phục của người Hmông cũng không, nằm ngoài nguồn gốc ấy. Tuy nhiên, do bị chỉ phối bởi những đặc thủ riêng về dia ban cư trú, diễn biến lịch sử, bản sắc văn hóa tộc người.
mà trang phục mông Xanh có những nét riêng sẽ được trình bày trong các phần sau. Trang phục bao gồm y phục và đồ trang sức. Y phục ra đời trước hết là để bảo vệ cơ thể con người khỏi những tác động có hại của thời tiết như: nóng, lạnh, tránh thú dữ, côn trùng. Trong y phục hay trang sức lại bao gồm những thành tổ và bộ phan khác nhau.
Trong đó, y phục là những thứ dùng để che đây, bảo vệ cơ thể, góp phần làm dep cho con người. Còn trang sức không chỉ là phương tiện làm tăng thêm vẻ đẹp cho con người mà còn có chức năng "trừ ma tả", làm "bùa hộ mệnh”. Đồ trang sức là những vật dụng mang theo trên mình với mục dich làm đẹp cho con người hoặc các mục đích khác theo quan niệm truyền thống hay đương đại của từng tộc người. Đồ trang sức bao.
giờ cũng mang tính thẩm mĩ và tính biểu trưng. Ngoài yếu tố cộng đồng, nó 13 còn phụ thuộc rất nhiều vào cá nhân sử dụng nó với vị thế, khả năng và quan niệm của chính cá nhân đó. Khái quát chung về mường Ngân, tỉnh Xay Nhạ Bu Ly, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 1. Điều kiện địa lý, tự nhiên Mường Ngân được thành lập từ ngày 14/11/1992, cách trung tâm tình “Xay Nha Bu Ly khoảng 139km.
Phía Bắc giáp huyện Beng tỉnh U Đôm Xay; phía Nam giáp huyện Sa Lớm Pra Kiệt (Thái Lan); phía Đông giáp huyện Héng Sá; và phía Tây giáp huyện Xiêng Hon. Diện tích tổng 75.840 km’, trong đó núi gồm 83% của tổng diện tích. Gồm có 22 bản làng: 2 làng phát triển, 3 làng phát triển độc lập, 8 làng là khu thị xã.190 hộ gia dinh, dân số16.866 người, nữ 8460 người. Mường Ngân có 6 dân tộc anh em chung sống: dân tộc Lào 5.55%, dân tộc Lự 35, 33% (đông nhất), dân tộc Khơ-mú 32,21%, dân tộc Hmông 26,11%, dân tộc Pray 0,48% và dân tộc Thái 0,28%, 1.
Đời sống cư dân Trong suốt thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Ủy ban Nhân dân huyện các giai đoạn đã cùng nhân dân đóng góp xây dựng nên nên kinh tế, văn hóa — xã hội ngày càng được phát triển và đời sống văn hóa cư dân được nâng cao ngày tốt hơn. Thể hiện qua một số con số thống kê sau: kinh tế huyện đã phát triển 12,8%, thu nhập của người dân là 12,88 triệu kíp (1.611$/ người/ năm; hộ gia đình nghèo giảm còn 82 gia đình là 2,5%; có 20 bản làng có trạm y tế để phục vụ người dân được tính là 90,90%, tắ cả các bản làng đều là làng có an ninh-trật tự, 17 làng văn hóa 77, 27%. Tt cả trẻ em từ 6-10 tuổi được vào học. Học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông trong thị xã phải mặc trang phục của dân tộc đi học 1 lần/ tuần.
Nhân dân 14 được phục vụ về mảng y tế 100%. Ủy ban Nhân dân tỉnh cắm hoàn toàn về việc đốt rừng làm nương định canh. Trong số ng 22 ban làng của huyện, người Hmông sinh sống chủ yếu. ở 9 làng: Na-nhang-khăm, Nặm-ngân, Huội-phậng, Thoọng, Phá-đeng, Pac- khen, Pang-bông, Bo-luống, Kịu-ngju.
Và người Hmông Xanh sống chủ yếu ở làng Nặm-ngân 1. Tổ chức xã hội Ở làng Hmông ngoài các tổ chức hành chính. Những quan hệ thôn xã cổ truyền có vai trò quan trọng trong đời sống Trong điều kiện sản xuất cá thể, du canh du cư hoặc cơ sở sản xuất không ôn định những mối quan hệ đó được giữ lại một cách tự nhiên với nhiều mức độ khác nhau ở các vùng. Đơn vị cư trú của người Hmông Xanh được gọi là zos (làng).
Mỗi zos có thể gồm 'từ một vài nhà cho đến hàng trăm nhà trên một địa điểm hay nhiều địa điểm. Đặc điểm chung của Zos là: Mỗi zos có phạm vi cư trú và đất đai làm ăn riêng. Dân cư một làng bao. gôm nhiều họ và trong đó thường có một họ đông người hơn, nhưng người ta vẫn thấy có nhiều làng chỉ có một họ.
Người Hmông Xanh cũng quan niệm rằng các dòng họ của mình cùng sinh ra từ một ông tổ, tuy ông tô đó được gọi không thống nhất. Các dòng họ phổ biến trong đồng bào là : Giảng, Vir, Song, Ly, Ving, Ho, Lò, Chang.Nhiều tên họ các dòng ho là tên súc vật, các hiện tượng tự nhiên hoặc gắn với một quan niệm kiêng kị nhất định. Mặc dù mỗi dòng họ người HHmông Xanh đều được giải thích bằng những quan niệm nhất định và có sự phân biệt với họ khác, song không phải những người cùng tên họ đều có những quan hệ thân thuộc. Ông bào cho.
rằng, những người cùng dòng họ là những người anh em cùng tổ tiên, có thể 1s đẻ và chết trong nhà của nhau mà không sợ tổ tiên trách cứ, luôn phải cứu mạng nhau trong đời sông. Điều đó dựa trên những căn cứ sau: Mỗi họ có nghỉ lễ cúng tổ tiên: ma chay, cách chôn cất riêng. Đối với người Hmông Xanh, các lễ cúng ma cửa, ma mụ, ma lợn, ma bò rất quan trọng mà sự khác nhau giữa các dòng họ là ở số lượng bát cúng, cách bày các. bát, chỗ cúng và ăn, bài cúng.
Trong đám ma có sự phân bột cách đặt xác tru- ớc khi đưa lên cáng cách treo cáng để xác ngoài trời trước khi chôn. Cách đặt mộ ở các dòng họ cũng khác nhau. Quan hệ hôn nhân với những người cùng dòng họ bị cắm triệt để. Trường hợp không phải là anh em nhưng củng tên họ, lấy nhau cũng không.
Đồng bào cho rằng họ phải có hôn nhân với dòng họ khác thì làm ăn mới tí có trường hợp quan hệ hôn nhân chỉ với một ho, Sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng họ bằng lao động và tiền, của được thực hiện đầy đủ khi một nhà nào đó có việc ma chay, cưới xin, dựng nhà. Dưới chế độ cũ cả họ gom tiền cho một người theo đuổi vụ kiện hoặc tranh chức. Người ta ít khi bán đất cho người họ khác và luôn theo dõi số phận những cô gái đã đi làm dâu. Trong đám ma chỉ những người cùng họ mới khiêng quan tải Mỗi họ có một trưởng họ dảm nhiệm các công việc chung.
Trưởng họ thường là những người có khả năng, không kể tuổi tác, ngôi thứ và được mọi người tôn trọng ủng hộ và nghe lời. Họ là linh hồn của dòng họ. Người Hmông Xanh ở mường Ngân, tỉnh Xay Nhạ Bu Ly, ‘Cong hòa Dân chủ Nhân dân Lào 1. Nguồn gốc, lịch sử: Nhiều nhà sử học đồng ý rằng trong thời cổ đại nguồn gốc Hmông.
Xanh xuất phát từ châu Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia (Tây Bá Lợi Á), rồi mới đến định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà vải ngàn năm trước. 16 Huyền thoại của dân tộc Hmông Xanh còn lưu truyền vẫn nhắc đến tổ tiên của họ vốn đã sống ở một vùng quanh năm tuyết phủ, băng giá, ngày và đêm kéo đài đến cả 6 tháng. Với người Hmông Xanh sống ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, chẳng hề thấy tuyết cho nên ngôn từ họ dùng để kể chuyện là “nước cứng” và “cát trắng mịn” Sau khi định cư ở Lào, người Hmông Xanh lại phải đấu tranh với người Kha ở vùng Xiêng Khoảng vào nửa cuối thế kỷ thứ 19.