phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu chung Chƣơng 2: Khung phân tích bằng kỹ thuật đo lƣờng rủi ro lãi suất bằng kỹ thuật phân tích chênh lệch lãi suất. Chƣơng 3: Đo lƣờng rủi ro lãi suất ở ngân hàng TMCP Á Châu Kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƢƠNG 2 KHUNG PHÂN TÍCH ĐO LƢỜNG RỦI RO LÃI SUẤT BẰNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT 2.1 Rủi ro lãi suất của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm rủi ro lãi suất Quá trình phát triển kinh tế thế giới luôn gắn liền với sự trổi dậy của các ngành liên quan, đặc biệt đối với thị trƣờng tài chính. Đối với Việt Nam, một đất nƣớc đang trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới , thị trƣờng tiền tệ cũng phát triển theo từng giai đoạn và đƣợc đánh giá là thị trƣờng phát triển nhanh thể hiện qua sự tăng nhanh số lƣợng NHTM, sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp và sự đóng góp của ngành vào GDP hàng năm.
Giai đoạn 2005-2010 ngành ngân hàng đƣợc đánh giá có lợi nhuận cao và có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc gia, tuy nhiên xét về bản chất kinh doanh ngân hàng chính là chấp nhận và quản lý rủi ro. Đặc biệt, từ cuối năm 2010 đến nay, cùng với khó khăn chung của nền kinh tế thế giới hệ thống các ngân hàng thƣơng mại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, trong đo có rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá là 1 trong 2 yếu tố chủ yếu và quan trọng nhất của rủi ro thị trƣờng. Có rất nhiều khái niệm liên quan đến rủi ro lãi suất trong ngành tài chính, nhƣng xét về bản chất những khái niệm trên cũng có những nét tƣơng đồng nhất định.
Theo ngân hàng nhà nƣớc (NHNN): “Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk): là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng”. Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều, trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp có viết: “rủi ro lãi suất phát sinh khi ngân hàng không khớp được giữa lãi suất thu được từ tài sản sinh lãi và lãi suất chi ra nguồn vốn phải trả lãi”, rủi ro lãi suất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 trong trƣờng hợp này là loại rủi ro phát sinh trong quan hệ tín dụng của các tổ chức tín dụng có những khoản cho vay hay đi vay theo lãi suất thả nổi. Khái niệm rủi ro lãi suất theo khái niệm của PGS. TS Nguyễn Văn Tiến đề cập trong giáo trình “quản trị rủi ro kinh doanh ngân hàng” lại liên quan đến nguyên nhân cụ thể đó là kỳ hạn đến hạn của các khoản vay và cho vay của các ngân hàng.
Theo ông: “Rủi ro lãi suất phát sinh đối với ngân hàng khi kỳ hạn đến hạn của tài sản có không cân xứng với kỳ hạn của tài sản nợ”.Kỳ hạn đƣợc đƣợc đề cập ở đây chính là khoản thời gian mà tài sản đƣợc định giá lại, rủi ro lãi suất trong trƣờng hợp này đƣợc phân tích cụ thể khi ngân hàng ở hai vị thế khác nhau là vị thế tái tài trợ và vị thế tái đầu tƣ. Cả ba khái niệm trên đều khẳng định nguyên nhân rủi ro lãi suất xuất phát từ sự thay đổi lãi suất trên thị trƣờng ảnh hƣởng trực tiếp đến khoản thu từ lãi từ hoạt động cho vay và khoản chi lãi cho các nguồn vốn huy động của ngân hàng trong đó hai khái niệm sau có đề cập cụ thể nguyên nhân gây ra rủi ro đối với ngành ngân hàng, đó là do việc duy trì lãi suất thả nổi hay sự không cân xứng về kỳ hạn phù hợp với phạm khía cạnh nghiên cứu cụ thể của từng tài liệu. Tuy nhiên, xét về khái niệm rủi ro tài chính nói chung thì khi ngân hàng đối mặt hoặc không với rủi ro cũng đồng nghĩa sẽ tạo nguy cơ ngƣợc lại đối với khách hàng của ngân hàng. Đối với giáo sƣ Joel Bessis, rủi ro lãi suất lại thể hiện với hai đối tƣợng là ngƣời cho vay và ngƣời đi vay.
Theo đó, dù lãi suất là cố định hay thả nổi thì mỗi ngƣời đi vay hay cho vay đều phải chịu đối mặt với nguy cơ rủi ro lãi suất nhƣ bảng thống kê sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Mối quan hệ giữa lãi suất và rủi ro Lãi suất LS thay đổi Ngƣời cho vay Ngƣời đi vay Tăng Lãi Lỗ Lãi suất thả nổi Nguy cơ Giảm Lỗ Lãi hiện tại Tăng Lỗ Lãi Lãi suất cố định Giảm Lãi Lỗ Tăng Lãi Lỗ Nguy cơ tƣơng lai Giảm Lỗ Lãi (Nguồn: Quản trị rủi ro – Giáo sư Joel Bessis) Chú ý: Nguy cơ tương lai được dự đoán là không chắc chắn. Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ muốn nhấn mạnh đến rủi ro lãi suất đối với ngân hàng thƣơng mại ở cả hai vai trò ngƣời đi vay (huy động vốn) và ngƣời cho vay. Theo đó, rủi ro lãi suất ngân hàng xuất phát từ 2 nguyên nhân: ngân hàng duy trì sự không cân xứng về kỳ hạn tài sản có và tài sản nợ; sự biến động về lãi suất thị trƣờng. Sự không cân xứng về kỳ hạn tài sản có và tài sản nợ: - Khách hàng đƣợc phép chọn kỳ hạn dựa trên nhu cầu cá nhân đối với tiền gửi và tiền vay, từ đó tạo ra sự đa dạng các khoản vốn huy động và các khoản vốn cho vay.
- Để duy trì vị thế về lợi nhuận, ngân hàng thƣờng có khuynh hƣớng duy trì thời hạn tài sản có lớn hơn kỳ hạn tài sản nợ. Ví dụ, ngân hàng sử dụng khoản vốn huy động ngắn ha ̣n v ới lãi suất thấp và cho vay thời hạn dài với lãi suất cao hơn, gây mất cân đối. - Vì yếu tố cạnh tranh, thu hút khách hàng, ngân hàng thƣờng không bắt buộc khách hàng phải thực hiện cam kết về kỳ hạn trong hợp đồng. Ví dụ, ngân hàng cho khách hàng gia hạn các khoản vay, cho phép khách hạn rút tiền gửi trƣớc hạn và trả tiền vay trƣớc hạn và giá trị các khoản này thƣờng không dự đoán đƣợc, Do vậy, càng tăng khả năng mất cân xứng về kỳ hạn cho vay và huy động của ngân hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Và khi có sự biến động về lãi suất: - Nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tƣ cũng nhƣ chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay đều bị tác động. - Ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của tài sản và nợ, làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Từ những phân tích về nguyên nhân và ảnh hƣởng của sự thay đổi lãi suất đến ngân hàng thƣơng mại có thể đƣa ra một khái niệm rủi ro lãi suất đối với các ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau: “Rủi ro lãi suất chính là những tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị trường biến động”. Với phạm vi nghiên cứu việc đo lƣờng rủi ro lãi suất đối với các ngân hàng thƣơng mại, khái niệm trên không đề cập đến đối tƣợng khách hàng của ngân hàng cũng chịu rủi ro khi có sự biến động lại suất nhƣng tác giả nhận thấy đây là khái niệm mang tính tổng quát và gần với mục tiêu nghiên cứu của đề tài.2 Tính chất rủi ro lãi suất Từ khái niệm trên có thể khẳng định, rủi ro ngân hàng gặp phải chính là do sự biến động lãi suất trên thị trƣờng.
Nhƣng trên thực tế, việc thay đổi lãi suất hay “giá” đồng vốn là quy luật thị trƣờng không thể thay đổi, do đó chúng ta cần làm rõ, trong trƣờng hợp nào thu nhập của ngân hàng giảm hay trƣờng hợp nào xãy ra rủi ro lãi suất với ngân hàng.1 Ngân hàng ở vị thế tái tài trợ Trong trƣờng hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trƣớc rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ. Phân tích sẽ rõ ràng hơn qua ví dụ sau: Ví dụ: Một ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn 1 năm và đầu tƣ có kỳ hạn 2 năm. Lãi suất huy động vốn là 9%/ năm và lãi suất đầu tƣ là 10%/ năm. Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắ n h ạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu đƣợc lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% - 9% = 1%.
Tuy nhiên lợi nhuận năm thứ 2 là không chắc chắn, phụ thuộc vào biến động lãi suất thị trƣờng năm thứ 2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Nếu lãi suất không thay đổi: ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với lãi suất không thay đổi là 9%. Nếu lãi suất biến động tăng: lãi suất huy động tăng 11% thì ngân hàng phải chịu lỗ 10% - 11% = -1% Nếu lãi suất biến động giảm: ngân hàng tái tài trợ với chênh lệch lãi suất cao hơn. Trƣờng hợp này rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tƣ tín dụng dài hạn.2 Ngân hàng ở vị thế tái đầu tƣ Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất tái đầu tƣ trong trƣờng hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ.
Nghĩa là ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tƣ có kỳ hạn ngắn. Ví dụ: Một ngân hàng huy động vốn với lãi suất 9% năm, kỳ hạn 2 năm và đầu tƣ vào tài sản có mức lãi suất là 10%/năm, kỳ hạn 1 năm. Sau năm thứ nhất ngân hàng thu đƣợc lợi nhuận là 1%; năm thứ 2, tài sản có đến hạn và ngân hàng tiếp tục tái đầu tƣ, lợi nhuận năm thứ 2 cũng phụ thuộc vào biến động thị trƣờng và không chắn chắn. Nếu lãi suất thị trƣờng năm thứ 2 giảm xuống chỉ còn 8%, ngân hàng phải gặp rủi ro về lãi suất đó là lỗ 8% – 9% = -1% Ngoài ra, khi có biến động lãi suất thị trƣờng ngân hàng còn đối mặt với rủi ro giảm giá trị tài sản.
Theo đó, nếu lãi suất thị trƣờng tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống.