Chương 1) giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm 4 phần chính. Chương 2 đề cập đến khái niệm và các vấn đề lý thuyết về rủi ro thanh khoản, cách đo lường thanh khoản cũng như khung chính sách quản lý thanh khoản của một NHTM. Tiếp đó, Chương 3 sẽ khái quát thực trạng thanh khoản của hệ thống NHVN, trong đó phân tích những biểu hiện rủi ro thanh khoản của hệ thống NHTM VN, và đánh giá hoạt động quản lý của NHNN trong vai trò giám sát việc quản lý thanh khoản. Chương 4 xác định các nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản của hệ thống NHTM VN bao gồm các yếu tố xuất phát từ bối cảnh vĩ mô, từ hoạt động giám sát của NHNN và việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM.
Trên cơ sở các phân tích đánh giá ở các phần trước, Chương 5 sẽ đưa ra các kết luận và kiến nghị các nhóm giải pháp chính sách nhằm đảm bảo thanh khoản cho hệ thống NH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. LÝ THUYẾT RỦI RO THANH KHOẢN NGÂN HÀNG 2.1 Thanh khoản của ngân hàng 2.1 Khái niệm tính thanh khoản Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát NH: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức” 3. Như vậy thanh khoản của một NH liên quan đến tiền mặt và các dòng lưu chuyển tiền tệ để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán tại một thời điểm.
Cụ thể hơn thanh khoản của một NH có thể được định nghĩa là: “Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa bằng đơn vị tiền tệ được quy định” 4. Theo đó, việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến thiếu khả năng hoặc mất thanh khoản của một NH. Một NH có thanh khoản tốt nếu như NH đó nắm giữ nhiều tài sản thanh khoản, dễ dàng chuyển sang tiền mặt hoặc có khả năng huy động thêm nguồn vốn với thời gian và chi phí thấp để đáp ứng nhu cầu về vốn khi cần thiết. Tính thanh khoản có sự khác biệt với khả năng thanh toán của NHTM đó là tính chất thời điểm.
NH vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải các khoản chi phí. Tuy nhiên, nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì NH sẽ rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Như vậy, một NH có thể mất thanh khoản trong khi vẫn có khả năng thanh toán, hay nói cách khác vốn là điều kiện cần nhưng chưa đủ để một NH đảm bảo khả năng thanh khoản.2 Đo lường thanh khoản Theo lý thuyết về quản trị NHTM của Peter S.Rose, trạng thái thanh khoản của NH được xác định thông qua mô hình cung – cầu về thanh khoản. Đối với các NH, cầu về thanh khoản gồm các yêu cầu chính về vốn để đáp ứng khi khách hàng rút tiền ra khỏi NH và các khách hàng muốn vay vốn từ NH.
Nguồn vốn mà các NH có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh 3 Basel (2008) 4 R.Duttweiler (2009) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khoản là từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản vay trên thị trường LNH. Trong trường hợp nguồn cung thanh khoản không đủ để đáp ứng nhu cầu, NH sẽ rơi vào trạng thái thiếu hụt về thanh khoản và phải tìm cách huy động để bổ sung vốn thanh khoản 5. Để đảm bảo khả năng chi trả tức thời tại mọi thời điểm, các ngân hàng phải giám sát hàng ngày dự trữ thanh khoản của mình. Dự trữ thanh khoản bao gồm cả dự trữ sơ cấp bằng tiền (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi NHNN, tiền gửi các tổ chức tín dụng khác) và dự trữ thứ cấp (giấy tờ có giá có đủ điều kiện để tái cấp vốn hoặc tái chiết khấu, hạn mức tín dụng được cấp bởi tổ chức tài chính khác…).
Đồng thời các NH cần xây dựng chính sách quản lý tài sản để đảm bảo duy trì nguồn vốn ổn định và có tính thanh khoản cao trong dài hạn. Theo bộ chỉ số lành mạnh tài chính của IMF đã được nhiều nước áp dụng, các chỉ số đánh giá sự lành mạnh về thanh khoản của NH bao gồm: Chỉ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản – hệ số tài sản thanh khoản (Liquid assets to total asset – Liquid asset ratio): đo lường mức thanh khoản của NH cho biết khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt theo dự tính và bất thường của khách hàng. Tài sản thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn (Liquid asets to shortterm liabilities): cho biết khả năng đáp ứng việc rút vốn ngắn hạn của khách hàng mà không ảnh hưởng đến thanh khoản của NH. Tổng tiền gửi của khách hàng so với tổng dư nợ (Customer deposit to total (noninterbank) loans): dùng để phát hiện những vấn đề thanh khoản, tỷ lệ này thấp cho thấy nguy cơ căng thẳng trong hệ thống NH và có thể là dấu hiệu dẫn đến sự suy giảm niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống NH.
Chênh lệch giữa lãi suất LNH cao nhất và thấp nhất (Spead between hihgest and lowest interbank rate): Để đánh giá các vấn đề thanh khoản và rủi ro của hệ thống NH, nếu chênh lệch càng lớn cho thấy một vài NH đang gặp vấn đề về thanh khoản 6 .Rose (2004) 6 Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo tiêu chuẩn IMF (NHNN, 2011) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng 2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Theo A.Vento, rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro của NH khi NH không có đủ các nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ vào thời điểm đến hạn, hoặc là phải sử dụng những nguồn tài chính với chi phí cao mặc dù NH vẫn có khả năng thanh toán 7. Như vậy, rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra khi NH không có đủ lượng tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu tức thì về vốn để đáp ứng các nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết với khách hàng. Trong trường hợp đó, các NH sẽ phải tăng vốn bằng cách chuyển đổi tài sản sang tiền mặt, hoặc vay mượn trên thị trường để có đủ vốn thực hiện các yêu cầu thanh toán, do vậy NH có thể rơi vào tình trạng thiếu vốn thanh toán hoặc phải chịu mức chi phí cao để vay được vốn. Hoạt động của các NH thực chất là sử dụng các khoản vốn huy động với thời hạn ngắn để cho vay với kỳ hạn dài hơn nên luôn có sự chênh lệch về kỳ hạn của dòng vốn, do vậy mà rủi ro thanh khoản luôn luôn tiềm ẩn đối với các NH và có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào.
Mặt khác, các loại rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường đều có ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản của NH và khi một trong các loại rủi ro xảy ra đều kéo theo rủi ro thanh khoản. Tình trạng kém thanh khoản của các NH có thể xuất phát từ phía tài sản nợ do sự sụt giảm về nguồn vốn huy động, hoặc từ phía tài sản có do các khoản nợ xấu không thu hồi được, từ đó ảnh hưởng lan truyền đến cả hệ thống NH làm cho thị trường tiền tệ bị bóp méo và và gây ra những trục trặc đối với toàn bộ nền kinh tế. Trên thị trường tiền tệ, tình trạng kém thanh khoản của hệ thống NH được biểu hiện ở việc tăng lãi suất để huy động vốn do đó lãi suất thị trường luôn ở mức cao. Mặt khác, do thiếu thanh khoản các NH đều có xu hướng cắt giảm cho vay, làm cho khách hàng rất khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng NH hoặc nếu có thì phải chịu mức lãi suất vay cao.
Tình trạng thiếu thanh khoản khiến cho các NH phải tăng cường vay mượn trên thị trường LNH, trong khi đó các NH khác không muốn cho vay đối với các NH có vấn đề, hoặc đòi hỏi mức lãi suất cao đi kèm với các yêu cầu về đảm bảo tài sản.Vento (2009) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 gây ra những trục trặc trên thị trường LNH, lãi suất LNH tăng cao đồng thời dòng vốn không lưu thông thông suốt do đó các NH càng thêm khó khăn trong việc cải thiện thanh khoản.2 Hệ quả của mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Hệ thống NHTM đóng vai trò cơ bản như là người tạo thanh khoản cho nền kinh tế thông qua các hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay, và nhiều hoạt động tài chính khác, do đó rủi ro thanh khoản của một NH sẽ có ảnh hưởng đến cả hệ thống và toàn bộ nền kinh tế.Duttweiler, “rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện được này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn” 8. Rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến phá sản NH tại một thời điểm mặc dù khả năng tài chính của NH đó vẫn đảm bảo kinh doanh có lợi nhuận. Do vậy xảy ra tình trạng thiếu khả năng thanh khoản được xem là loại rủi ro nghiêm trọng nhất đối với các NH. Rủi ro thanh khoản có thể làm cho các NH thiếu hụt tạm thời về thanh khoản, khi đó các NH phải tìm các nguồn bổ sung thanh khoản bằng cách vay mượn từ các NH khác hoặc vay NHTW để giải quyết các nhu cầu đột biến về vốn.
Nghiên cứu về rủi ro của hệ thống NH cho thấy, tình trạng thiếu hụt tạm thời về thanh khoản có thể dẫn đến thanh khoản của NH nhanh chóng cạn kiệt và NH sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả. Khi đó, việc hỗ trợ thanh khoản của NHTW cho các NH này sẽ làm tăng thêm rủi ro hệ thống và tăng chi phí cứu trợ. Đối với một NH, rủi ro thanh khoản có nguy cơ làm giảm uy tín của NH đó và đặc biệt nghiêm trọng khi các thông tin bị rò rỉ ra bên ngoài. Do bất cân xứng thông tin trong các giao dịch giữa khách hàng và NH, khi các biểu hiện thiếu thanh khoản xuất hiện sẽ nhanh chóng dẫn đến hiện tượng khách hàng rút tiền hàng loạt để bảo toàn vốn.
Điều này làm cho các NH trở nên cạn kiệt về thanh khoản, và thậm chí buộc phải đóng cửa.