Chương 1 giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu “Ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam”. Đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, mẫu là 15 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 -2017. Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là ứng dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam, Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng phương pháp bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) để đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009 - 2017. Đồng thời kết hợp phân tích chỉ số đo lường thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp – Malmquist để tìm ra các yếu tố tác động dẫn đến phi hiệu quả hoạt động.
Từ kết quả nghiên cứu, gợi ý một số giải pháp phù hợp cho nhà quản trị ngân hàng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho các NHTMCP Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU DEA 2.1 Hiệu quả hoạt động Ngân hàng thương mại Hiệu quả là thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực. Trong kinh tế học, hiệu quả là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Theo Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc ( 2012 ), “ Hiệu quả là mối quan hệ giữa đầu vào nhân tố khan hiếm và số lượng hàng hóa và dịch vụ ” và “khái niệm hiệu quả còn được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá xem thị trường phân bổ nguồn lực tốt đến mức nào ”.
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường tổng quát bằng tỷ lệ đầu ra trên đầu vào. Các yếu tố đầu vào như là vốn, kỹ thuật, lao động …và các yếu tố đầu ra như sản phẩm, lợi nhuận…. Ngân hàng là TCTC trung gian quan trọng trong việc huy động vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng được xem là hiệu quả hoạt động, là lợi nhuận mà ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), hiệu quả hoạt động của NHTM được hiểu “ Là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra, hay khả năng sinh lời ; hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Là xác suất hoạt động an toàn của các ngân hàng ”. Sandrine Kablan (2010 ), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả với nổ lực tối thiểu hóa nguồn lực đầu vào. Nó đo lường mức độ một đơn vị sản xuất đạt gần đường biên giới hạn khả năng sản xuất, trong đó đường biên giới hạn khả năng sản xuất là tập hợp các điểm tối ưu kết hợp đầu vào để sản xuất đầu ra.
Theo Farrell (1957), hiệu quả bao gồm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật. Hiệu quả phân bổ là việc doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất ra đầu ra ở mức chi phí thấp nhất. Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng doanh nghiệp đạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 được đầu ra tối đa từ đầu vào cho trước (định hướng đầu ra) hoặc việc doanh nghiệp sử dụng đầu vào tối thiểu để đạt được đầu ra cho trước (định hướng đầu vào). Việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng giúp cải thiện hiệu quả quản lý bằng cách xác định những yếu tố được đo lường với mức độ hiệu quả cao và thấp (Berger và Humphrey, 1997) Quan điểm đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng tùy thuộc vào mỗi nhà nghiên cứu và nguồn số liệu thu thập được.
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả tiếp cận hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo quan điểm thể hiện khả năng sử dụng các đầu vào như lao động, kỹ thuật, vốn. để sản xuất đầu ra như thu nhập, lợi nhuận.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM Theo Berger và Humphrey (1997), có 02 phương pháp chính đánh giá hiệu quả hoạt động bao gồm phương pháp kế toán chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phương pháp phân tích hiệu quả biên.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua chỉ tiêu tài chính Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu tài chính là phương pháp truyền thống và đã được thực hiện nghiên cứu khá nhiều trên thế giới. Nghiên cứu của Seiford, L. và J Zhu (1999), hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đánh giá bằng cách sử dụng các chỉ tiêu tài chính, kế toán, đánh giá mối quan hệ giữa nhiều yếu tố liên quan như tài sản, doanh thu, lợi nhuận, giá trị thị trường, số lượng nhân viên, đầu tư và sự hài lòng của khách hàng.
Bikker và Haaf (2002) chỉ ra nên tập trung phân tích hiệu quả chi phí. (2003) cho rằng phương pháp tốt nhất để phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng là trình bày rõ ràng trên báo cáo thường niên và báo cáo thu nhập ngân hàng, trong đó các biến được thiết lập rõ ràng để trình bày, so sánh các kết quả. (2006) lại chỉ ra vốn vay là chỉ tiêu chính để đo lường hiệu quả ngân hàng. Chất lượng vốn vay ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của bất kỳ ngân hàng nào.
Theo nghiên cứu của Berger và Hannan (2008) lập luận rằng thanh khoản là chỉ tiêu rất quan trọng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đánh giá bất kỳ kế hoạch tài chính nào cũng phải bao gồm dữ liệu về thanh khoản. Nghiên cứu gần đây của Adam, M. (2014) phân chia các tỷ số tài chính thành 03 nhóm chính phản ánh khả năng sinh lợi, nhóm phản ánh khả năng thanh khoản và nhóm phản ánh chất lượng tài sản. Tổng kết từ nhiều nghiên cứu, nhìn chung, các chỉ tiêu tài chính để đánh giá, phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng có thể được chia thành 3 nhóm chính phù hợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam, đó là: - Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi.
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh. - Nhóm chỉ tiêu đo lường rủi ro trong quá trình hoạt động của ngân hàng. *Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi: Khả năng sinh lời được đo lường bằng các chỉ tiêu chính sau: ROA- tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản, ROE - tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, NIM - tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, NNIM - tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản ROA được tính theo công thức sau: ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản bình quân ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng, phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.
ROA cho thấy khả năng quản lý để đạt được tiền gửi với mức chi phí hợp lý (Ahmed, 2009). ROA được dùng để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của ngân hàng. Tỷ lệ ROA cao cho thấy ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, điều động linh hoạt trong danh mục tài sản có. Tỷ lệ ROA thấp phản ánh ngân hàng có danh mục tài sản chưa hợp lý, cho vay không hiệu quả, chi phí hoạt động cao.
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE được tính bằng công thức sau: ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân Tổng vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ROE cũng là chỉ số quan trọng đánh giá lợi nhuận và khả năng tăng trưởng của một ngân hàng. ROE cũng được dùng để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Tỷ số này đo lường lợi nhuận đạt được trên mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu đầu tư vào ngân hàng.
ROE cao là mục tiêu mong muốn của các cổ đông. Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, khả năng thu hồi vốn của cổ đông cao. ROE thấp làm giảm khả năng thu hút vốn cho việc mở rộng quy mô, hạn chế tăng trưởng ngân hàng. Các chỉ tiêu ROA, ROE được các nhà quản trị, các nhà đầu tư tính toán để phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng, chúng thể hiện khả năng thu hồi vốn đầu tư của cổ đông.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM và Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên NNIM được tính bằng công thức sau: NIM = ( Thu nhập lãi thuần / Tổng tài sản có sinh lời bình quân NNIM = (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi) / Tổng tài sản có sinh lời bình quân Tỷ lệ NIM và NNIM là thước đo quan trọng để đánh giá khả năng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cho thấy năng lực quản trị, điều hành của ngân hàng. Tỷ lệ NIM xác định bằng tổng thu nhập từ lãi trừ đi chi phí trả lãi trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. Trong đó, tổng tài sản có sinh lời được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD, chứng khoán kinh doanh, cho vay khách hàng, cho vay các TCTD khác, chứng khoán đầu tư. Tỷ lệ NIM phản ánh mức chênh lệch lãi suất giữa huy động và cho vay của ngân hàng, phản ánh khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát tài sản có sinh lời và tìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp.
Ngoài nguồn thu từ lãi, ngân hàng còn tập trung vào các khoản thu chi ngoài lãi. Tỷ lệ NNIM thu nhập ngoài lãi cận biên phản ánh mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi (từ phí dịch vụ và các khoản thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và giao dịch vàng, thu từ hoạt động mua chứng khoán kinh doanh mua bán chứng khoán đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tư và thu từ hoạt động khác ) với các khoản chi phí ngoài lãi ( như tiền lương, chi bảo hành, sữa chữa. Hiện nay, các NHTM đều tập trung phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhằm tăng thu nhập ngoài lãi.