Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Giới thiệu hệ thống NHTM Việt Nam – Vấn đề QTRR Chương 3: Cơ sở lý thuyết về QTRR theo Hiệp ước Basel II Chương 4: Thực trạng triển khai và áp dụng Hiệp ước Basel II trong QTRR của các NHTM Việt Nam Chương 5: Các giải pháp, kiến nghị ứng dụng Hiệp ước Basel II trong QTRR của các NHTM Việt Nam 6. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Luận văn đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về QTRR trong hoạt động của NHTM, và kiểm soát rủi ro (“KSRR”) theo các quy định của Basel II đối với các NHTM. Sau khi hoàn thiện, luận văn có thể được coi là một tài liệu tham khảo đối với công tác QTRR LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 trong hệ thống ngân hàng nói chung, KSRR trong hoạt động của NHTM nói riêng. Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu nghiên cứu liên quan đến những quy tắc, chuẩn mực của Hiệp ước Basel II được áp dụng vào các NHTM Việt Nam, để từ đó hoàn thiện khả năng QTRR của ngân hàng.
Các cơ quan, nhà quản lý có thể sử dụng đề tài để cải thiện quy trình kiểm tra, và nâng cao hoạt động giám sát của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THEO HIỆP ƯỚC BASEL II 2. Những nội dung cơ bản của Hiệp ước Basel II 2. Sự ra đời và quá trình phát triển của Hiệp ước Basel II 2.
Ủy ban Basel Cuối thập kỷ 70, khủng hoảng ngày càng hiện rõ trong nền kinh tế. Năm 1974, trước viễn cảnh các ngân hàng sẽ phải đối mặt với một sự đổ vỡ mang tính dây chuyền sẽ xảy đến vào thập kỉ 80, một nhóm các Ngân hàng Trung ương (“NHTW”) đã tiến hành một cuộc họp khẩn cấp với cơ quan giám sát của 10 nước phát triển tại thành phố Basel, Thụy Sĩ nhằm thành lập ra Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision). Các thành viên của Ủy ban gồm đại diện NHTW và cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Hoa Kỳ, Canada, Đức, Anh, Hà Lan, Bỉ, Nhật, Pháp, Luxembourg, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha và Ý. Thời gian nhóm họp của Ủy ban thường từ 3 đến 4 lần trong một năm.
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel đề xuất thành lập ra Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel. Hội đồng gồm 15 thành viên, trong đó tập hợp nhiều đại diện cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng đến từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên. Ủy ban Basel cũng như các tiểu ban luôn sẵn sàng trong việc chia sẻ những ý kiến cũng như cung cấp những tư vấn đến các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Không có hoạt động giám sát trực tiếp nào đối với Ủy ban Basel.
Những kết luận và đánh giá đưa ra của Uỷ ban này không bắt buộc tuân thủ đồng thời cũng không mang tính pháp lý. Chức năng chính của Ủy ban Basel xoay quanh việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển những hướng dẫn giám sát và những tiêu chuẩn, bên cạnh đó đưa ra các nội dung, mẫu biểu báo cáo bám sát thực tiễn để khuyến cáo các NHTM áp dụng nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân mỗi NHTM cũng như hệ thống tài chính của các quốc gia. Bên cạnh đó Ủy ban cũng giới thiệu các nội dung, đưa ra các báo cáo mang tính thực tiễn cao nhất với mong muốn các tổ chức riêng lẻ có thể vận dụng một cách tương thích với tình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hình hoạt động tài chính của mình. Bằng cách đó, Ủy ban sẽ không tìm cách tham gia sâu vào các quy trình giám sát của từng nước mà chỉ đơn thuần khuyến khích các nước thành viên áp dụng các tiêu chuẩn chung.
Để những sáng kiến của mình có thể nhận được sự hậu thuẫn cao nhất, Ủy ban luôn phải thực hiện công việc giải trình đến thống đốc của NHTW hoặc cơ quan giám sát các hoạt động ngân hàng của nhóm G10. Với mục tiêu là thu hẹp khảng cách trong công tác giám sát an toàn hoạt động ngân hàng trên toàn thế giới, Uỷ ban Basel đặt ra 2 tiêu chí quan trọng là: sự đầy đủ trong công tác giám sát và sự bảo đảm trong việc các ngân hàng nước ngoài đều phải chịu sự giám sát. Hiệp ước Basel I – 1988 Như đã đề cập ở phần trên, năm 1974, tại Thành phố Basel, Thụy Sĩ, NHTW của 10 nước phát triển (G10) thành lập ra Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng. Sau đó, các quy định liên quan đến vốn và đo lường vốn trong hệ thống ngân hàng đã được Ủy ban Basel tiến hành chuẩn hóa.
Năm 1988, Ủy ban đã thành công trong việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn về an toàn vốn và hệ thống đo lường, theo đó các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó và giảm thiểu những rủi ro, biến cố có thể xảy ra. Hệ thống này quy định tiêu chuẩn vốn tối thiểu (tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro) là 8%. Đây được xem là một chỉ tiêu khá quan trọng trong việc thể hiện năng lực tài chính, mức độ an toàn vốn của ngân hàng. Khi áp dụng tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu này, ngân hàng sẽ cải thiện được khả năng ứng phó với những rủi ro khác nhau mà ngân hàng sẽ phải đối mặt trong tương lai.
Kể từ năm 1992, văn bản chuẩn hóa được đặt tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I) và chỉ được đề xuất áp dụng dành cho các nước thành viên G10, tuy nhiên có rất nhiều nước khác trên thế giới cũng tự nguyện áp dụng tiêu chuẩn của Hiệp ước vốn Basel I. Basel I cho rằng ngân hàng có mức vốn trầm trọng khi CAR < 2%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6%, thiếu vốn khi CAR < 8%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8% và tốt nhất khi có CAR > 10%. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Phương trình 2. Công thức tính hệ số CAR: Vốn bắt buộc CAR = Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA) Basel I đã mang đến một khái niệm tổng quan nhất về vốn của ngân hàng và tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng.
Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3 Theo Tạp chí tin học ngân hàng của NHNN Việt Nam: “Vốn cấp 1 – Vốn tự có cơ bản: là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; dự trữ công bố (lợi nhuận giữ lại); lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; lợi thế kinh doanh (goodwill); Vốn cấp 2 – Vốn bổ sung: gồm lợi nhuận giữ lại không công bố; dự phòng đánh giá lại tài sản; dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; công cụ vốn hỗn hợp; vay với thời hạn ưu đãi; đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác; Vốn cấp 3 (chỉ dành cho RRTT): vay ngắn hạn” RWA: là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với RRTD theo một công thức do cơ quan quản lý đặt ra. Phương trình 2. Tài sản có rủi ro trong Basel I: RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng) Trong đó, trọng số rủi ro bao gồm 4 mức là 0%, 20%; 50% và 100% (Phụ lục). Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này.
Năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi bằng việc bổ sung thêm RRTT và đi kèm đó là hai phương pháp tính liên quan đến loại rủi ro này: bằng mô hình nội bộ của ngân hàng hoặc bằng mô hình Basel tiêu chuẩn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nhìn chung, Basel I đã lần đầu tiên đưa ra được một tiêu chuẩn liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng, giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn và nâng cao khả năng chống lại các biến cố rủi ro. Hạn chế của Basel I dẫn đến sự ra đời của Basel II Với xu hướng không ngừng phát triển trong ngành công ngiệp tài chính toàn cầu đã làm xuất hiện các nhân tố rủi ro mới trong hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, với mục đích nhằm tăng vốn, tăng sức cạnh tranh, công nghệ trên thị trường thì xu thế các ngân hàng muốn sát nhập vào ngày càng cao nhằm vươn ra thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, Basel I không đủ điều kiện áp dụng trong những trường hợp này. Một số hạn chế của Basel I như sau: Thứ nhất, Basel I không có sự phân nhóm rõ ràng theo từng loại rủi ro: hệ số rủi ro chưa phân theo đặc điểm của khoản tín dụng (thời hạn vay), theo chi tiết của từng đối tác (xét đến năng lực tài chính của từng khách hàng); Thứ hai, Basel I đã bỏ qua các loại rủi ro khác có sức tác động ngày càng lớn đến ngân hàng như RRTT, RRHĐ. Basel II đã thay đổi cách tính các chỉ tiêu ở mẫu số trong công thức tính tỉ lệ vốn tối thiểu trên tài sản có rủi ro. Đây là sự thay đổi khá quan trọng.
Mặc dù Basel II vẫn quy định mức vốn an toàn tối thiểu là 8% nhưng mẫu số bao gồm cả ba loại rủi ro là RRTD, RRTT và RRHĐ. Thứ ba, việc áp dụng phương pháp đánh giá và các chỉ tiêu khác nhau đối với các NHTM với quy mô và mức độ đa dạng hóa hoạt động khác nhau là sự thay đổi khá quan trọng của Basel II. Các nhà quản lý và các NHTM áp dụng Basel II sẽ có được một danh sách linh hoạt hơn các phương pháp khuyến khích và các biện pháp để lựa chọn. Thứ tư, trong bối cảnh hiện nay, Basel I có thể được xem là lỗi thời khi gần như không theo kịp được với sự phát triển và mở rộng của các công cụ tài chính trên thị trường như các công cụ tài chính phái sinh, chứng khoán hóa các khoản nợ.