Chương 1, luận văn sẽ nghiên cứu việc tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn trong hoạt động của các NHTM. Những quy định này là cần thiết để kiểm soát xung đột lợi ích trong các mối quan hệ ủy quyền - thừa hành. Quy định hiện hành của VN về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM gồm các nội dung giám sát về vốn, giới hạn tín dụng và giới hạn đầu tư góp vốn cổ phần, tỷ lệ khả năng chi trả và việc phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro. Các nội dung giám sát sẽ được lần lượt trình bày dưới đây.1 Vốn của NHTM Vốn điều lệ của NHTM do cổ đông đóng góp.
Đây chính là phần trách nhiệm hữu hạn của cổ đông nhằm chia sẻ rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NH. Do trục trặc lớn nảy sinh từ vấn đề chi phí ủy quyền của nợ trong hoạt động của các NH, nên ở nhiều nước có quy định về mức vốn tối thiểu (vốn pháp định) đối với NHTM, theo đó vốn điều lệ của NHTM phải lớn hơn vốn pháp định. Vốn của NH là nguồn tài chính dự phòng bù đắp rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Từ năm 2011, theo quy định của Chính phủ VN4, vốn pháp định của NHTMCP hoặc NHTMNN không được thấp hơn 3000 tỷ đồng.
Hướng tới chuẩn mực giám sát quốc tế theo Hiệp ước Basel, bên cạnh quy định về vốn điều lệ tối thiểu, NHNN đã đưa ra quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (capital adequacy ratio - CAR) gồm CAR riêng lẻ và CAR hợp nhất. Theo quy định hiện hành 5, tài sản có được chia thành nhiều loại với mức độ rủi ro khác nhau từ 0% đến 250%. Các tài sản đầu tư an toàn có hệ số rủi ro 0% trong khi các khoản đầu tư rủi ro nhất có hệ số 250% gồm các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán hoặc kinh doanh bất động sản. Đồng thời vốn tự có cũng được chia thành vốn cấp 1và vốn cấp 2 với các thành phần được định nghĩa 4 Nghị định 141, đã dẫn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cụ thể. Theo quy định này, từ tháng 10 năm 2010, CAR của các NHTM phải đạt 9%. Quy định trước đây là chỉ là 8%,6 với các phân chia sơ bộ về tài sản và vốn tự có. Nhằm ngăn ngừa ảnh hưởng xấu từ hoạt động của công ty con, NHNN đã quy định về tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất đối với các NHTM.2 Giới hạn tín dụng Tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống mang lại lợi nhuận chính cho các NHTM.
Do NH dùng tiền gửi huy động từ nền kinh tế để cho vay lại các khách hàng, nguyên tắc đầu tiên quan trọng của hoạt động này là vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Từ nguồn tiền trả nợ của người vay, NH hoàn trả tiền gửi và lãi cho người gửi tiền. Nếu người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, NH gặp khó khăn. Do đó, giám sát hoạt động tín dụng là một trong các nội dung chính của cơ quan giám sát NH mà ở VN là NHNN.
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên chất lượng nợ xấu là cho vay theo quan hệ. Quyết định cấp tín dụng không dựa trên tính khả thi của phương án vay vốn mà dựa trên mối quan hệ giữa bên cho vay và đi vay. Khi rủi ro xảy ra, người chịu tổn thất sau cùng là người gửi tiền và cổ đông. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp dù đã rất nỗ lực nhưng do hoạt động sản xuất kinh doanh chịu thiệt hại từ các nguyên nhân khách quan, người vay vốn vẫn không trả nợ được cho NH.
Điều này gây rủi ro lớn cho NH vì tổ chức này luôn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi đúng hạn cho người gửi tiền. Theo quy định hiện hành8 NHTM phải xác định rõ một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan, các đối tượng không được cấp tín dụng, những trường hợp không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cho vay ưu đãi, các đối tượng hạn chế cấp tín dụng. Cụ thể, tổng dư nợ cho vay một khách hàng là không quá 15% vốn tự có của NHTM và tổng dư nợ cho vay tối đa với một nhóm khách hàng có liên quan là 25% vốn tự có của NH. Khoản đầu tư trái phiếu do DN phát hành cũng được tính gộp vào dư nợ tín dụng.
Các NHTM không được cấp tín dụng cho DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà NHTM nắm quyền kiểm soát. 6 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN. 8 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Điều 4 khoản 28, Điều 126, 127, 128 và 129.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Giới hạn đầu tư, góp vốn cổ phần Hoạt động đầu tư, góp vốn cổ phần thuộc lĩnh vực hoạt động NH đầu tư, không phải là ngành nghề kinh doanh cốt lõi của NHTM. Để hạn chế trục trặc từ vấn đề chi phí ủy quyền của vốn cổ phần, khung giám sát hiện hành quy định NHTM phải thành lập hoặc mua lại công ty con để thực hiện các hoạt động kinh doanh NH đầu tư, cho thuê tài chính và bảo hiểm.9 Đồng thời Luật các tổ chức tín dụng10 cũng quy định tỷ lệ góp vốn tối đa vào mỗi công ty và tổng mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM 11. Các NHTM không được góp vốn, mua cổ phần của NHTM là cổ đông, thành viên góp vốn của chính NHTM đó. Các khoản đầu tư, góp vốn cổ phần này của NHTM phải loại ra khỏi vốn tự có khi tính các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.4 Đảm bảo khả năng chi trả NHTM huy động tiền gửi để cho vay.
Do sự sai biệt kỳ hạn của tiền gửi và các khoản cho vay, kỳ hạn của tiền gửi thường ngắn hơn kỳ hạn của khoản cho vay, nên NHTM luôn chịu rủi ro thanh khoản. NHTM duy trì thanh khoản nhằm mục đích đảm bảo tiền gửi cho người gửi tiền. Vì vậy, NHNN quy định các NHTM phải luôn đảm bảo khả năng chi trả12. Tỷ lệ giữa tổng tài sản có thanh toán ngay và tổng nợ phải trả cho ngày hôm sau tối thiểu bằng 15%.
Tỷ lệ giữa tổng tài sản có đến hạn trong 7 ngày tiếp theo và tổng nợ đến hạn thanh toán trong vòng 7 ngày tối thiểu bằng 1.13 Ngoài ra NHNN cũng quy định tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn tối đa là 30%14. Cũng từ năm 2010, NHNN quy định tỷ lệ cho vay trên tổng huy động của các NHTM tối đa là 80%.5 Phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro Khi hoạt động kinh doanh gặp rủi ro, quỹ dự phòng rủi ro cùng với vốn tự có là hai lá chắn tài chính của NHTM. NHNN quy định, ít nhất mỗi quý một lần, các NHTM thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự phòng rủi ro đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của 9 Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Điều 103 10 Luật các tổ chức tín dụng 2010 11 Thông tư 13 - Điều 16 và Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Điều 130, đã dẫn. 12 Luật các tổ chức tín dụng 2010 - Điều 130 13 Thông tư số 13, đã dẫn 14 Thông tư số 15/2009/TT – NHNN 15 Thông tư số 13, đã dẫn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 quý (tháng) trước.
Theo quy định hiện hành các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 là nợ xấu của NHTM (chi tiết xem Phụ lục 2. NHNN quy định và giám sát việc phân loại nợ và trích lập dự phòng nhằm bảo đảm NHTM không bị mất vốn. Đồng thời việc trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu làm tăng chi phí, từ đó làm giảm lợi nhuận của NHTM. Người gửi tiền được bảo vệ quyền lợi tốt hơn vì nếu một NHTM có lượng nợ xấu cao, NH đó không thể chia cổ tức.
Ngoài năm nội dung giám sát chính nêu trên, quy định về bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM còn một số nội dung khác, trong đó có hạn chế về kinh doanh bất động sản. Khung giám sát của NHNN đã được ban hành và liên tục cập nhật, nâng cao nhằm giám sát tốt hơn nữa hoạt động của các NHTM. Rất nhiều chỉ tiêu giám sát đã gần tiệm cận với tiêu chuẩn giám sát theo khuyến nghị của Hiệp ước Basel. Về mặt lý thuyết, với mức độ phát triển hiện tại, nếu các NHTM tuân thủ tốt các quy định hiện hành của khung giám sát thì an toàn của cả hệ thống NH sẽ được đảm bảo.
Tuy nhiên, NHTM phải chịu phí tổn để tuân thủ khung giám sát và họ có thể có động cơ hình thành các cơ chế để không phải tuân thủ. SHC là một trong những cơ chế này. Vấn đề SHC giữa các NH và giữa DN với NH 2.1 SHC trên thế giới Sở hữu chéo được định nghĩa là doanh nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B và ngược lại doanh nghiệp B sở hữu doanh nghiệp A. Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) định nghĩa sở hữu chéo ở Đức là việc các công ty, thuộc lĩnh vực công nghiệp và tài chính, nắm giữ lâu dài cổ phần của nhau.
Theo Scher (2001), sở hữu chéo ở Nhật Bản thường được hiểu là việc hai hoặc nhiều công ty nắm giữ cổ phần của nhau. Quan hệ SHC giữa NH và DN có ở nhiều nước trên thế giới và được đúc kết nhiều nhất tại Đức và Nhật Bản. Trái lại, NH ở các quốc gia như Anh và Mỹ phần nhiều theo định hướng thị trường nên quan hệ SHC không phổ biến. Lập luận ủng hộ cho rằng SHC giữa NH và DN làm giảm bất cân xứng thông tin, qua đó NH có thể hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp.
Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cho rằng SHC giữa NH, công ty bảo hiểm và các DN lớn và mối quan hệ gần gũi, liên kết giữa thành viên hội đồng quản trị của các công ty khác nhau là đặc điểm chính của mối quan hệ NH - DN ở Đức. Mô hình truyền thống này đã hỗ trợ dẫn dắt sự thành công của quá trình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 công nghiệp hóa ở Đức, góp phần tạo nên một nền tảng công nghiệp ổn định. Quan hệ SHC với các NH đảm bảo cho các DN sự ổn định về sở hữu cùng tính liên tục trong quản trị doanh nghiệp. Đồng thời SHC cho phép NH nắm giữ quyền lực quan trọng trong các DN từ đó tạo nên cho NH mạng lưới các mối quan hệ cá nhân, không phải luôn minh bạch, với một số nhất định các nhà điều hành của các công ty khác nhau.