Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về rủi ro tín dụng và tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP niêm yết tại Việt Nam Chương 4: Kiểm định tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2006 đến 2014 Chương 5: Giải pháp hạn chế tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP niêm yết tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp với những đặc thù về hoạt động kinh doanh và hàng hóa vô cùng đặc biệt – tiền tệ. Trong đó tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu và lâu đời nhất của ngành ngân hàng. Nó mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhưng cũng kèm theo nhiều rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro tín dụng này không chỉ làm giảm lợi nhuận do phía ngân hàng phải thực hiện trích lập dự phòng cho rủi ro tín dụng có thể xảy ra mà nó còn gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Nhiều thống kê cho thấy, rủi ro tín dụng đã chiếm gần khoảng 70% tổng số rủi ro hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy, rủi ro tín dụng được xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.1 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trên thực tế, có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng. Tuy nhiên những khái niệm đó điều mang hàm ý rằng rủi ro tín dụng phát sinh khi khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi như đã cam kết hợp đồng với ngân hàng. Cụ thể như sau: Theo Henie và Sonja thì : “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khả năng thanh khoản của ngân hàng”. Hai nhà kinh tế Sauders và Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Ở Việt Nam theo thông tư số 02/2013/TT–NHNN của ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: - Rủi ro tín dụng xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, khi người đi vay trễ hẹn hoặc trường hợp xấu hơn là không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ theo hợp đồng đã ký kết, bao gồm cả vốn gốc hoặc lãi phát sinh. Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì rủi ro tín dụng sẽ xuất hiện trong các mối quan hệ, khi ngân hàng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác có liên quan. - Rủi ro tín dụng là một yếu tố mang tính khách quan. Vì vậy, rủi ro tín dụng không thể nào tránh khỏi, nó luôn tồn tại song hành cùng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng và chỉ có thể có những giải pháp phòng ngừa và hạn chế các tác động chứ không thể loại trừ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu mà rủi ro tín dụng được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Hình 2.1: Các loại rủi ro tín dụng 2.1 Rủi ro giao dịch Đây là một hình thức của rủi ro tín dụng có nguyên nhân phát sinh từ những hạn chế trong quá trình giao dịch và đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
- Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án cho vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro đảm bảo là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Rủi ro nghiệp vụ xuất hiện trong công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.2 Rủi ro danh mục Đây là hình thức của rủi ro tín dụng có nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó bắt nguồn từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung là những trường hợp khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng hay cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.3 Quy trình phát sinh rủi ro tín dụng Khi khách hàng vay vốn gặp khó khăn, khả năng thanh toán suy giảm, dẫn đến thất thoát vốn, phá sản, không khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng, khi đó, rủi ro tín dụng sẽ xảy ra. Có bốn trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc: Đó là không thu được lãi, không thu được vốn, không thu đủ lãi và không thu đủ vốn cho vay. Không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro chỉ ở mức thấp và chỉ cần đưa vào mục phát sinh lãi treo.
Trong trường hợp ngân hàng không thu được lãi thì sẽ có khoản mục phát sinh lãi treo đóng băng. Còn khi không thu đủ vốn cho vay, ngân hàng sẽ có khoản nợ khó đòi. Và nợ quá hạn sẽ phát sinh khi không thu được vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Khách hàng không khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ Không thu Không thu Không thu Không thu đủ được lãi được vốn đủ lãi vốn cho vay Phát sinh Phát sinh Phát sinh lãi Phát sinh lãi treo nợ quá hạn treo đóng băng nợ khó đòi Rủi ro tín dụng Hình 2.2: Quá trình phát sinh rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 2.3 Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu các chỉ tiêu dùng để đánh giá rủi ro tín dụng.
Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất về các chỉ tiêu này. Ví dụ như Kargi (2011) đã dùng tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ giữa tổng dư nợ chia cho tổng vốn huy động để đo lường mức độ tác động của rủi ro tín dụng; Samuel và các cộng sự (2012) thì lại dựa vào tỷ lệ xóa nợ ròng, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ lợi nhuận trước dự phòng trên tổng dự nợ. Như vậy, từ những trích dẫn trên có thể thấy rằng có rất nhiều cách để đánh giá đo lường rủi ro tín dụng. Việc lựa chọn chỉ tiêu, phương pháp nào là dựa vào quan điểm của người nghiên cứu và dựa vào cơ sở dữ liệu có thể thu thập được của quốc gia thực hiện nghiên cứu.
Sau đây tác giả xin trình bày các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 • Tỷ lệ nợ quá hạn Theo thông tư 02/2013/TT–NHNN: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam các khoản nợ quá hạn được phân chi thành bốn nhóm theo thời gian: - Nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày: Nợ cần chú ý - Nợ quá hạn từ 90 đến180 ngày: Nợ dưới tiêu chuẩn - Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày: Nợ nghi ngờ - Nợ quá hạn trên 360 ngày: Nợ có khả năng mất vốn. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ giữa các khoản nợ quá hạn và tổng dự nợ cho vay của một ngân hàng ở một thời điểm nhất định. Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh rủi ro tín dụng, cho thấy khả năng thu hồi vốn đối với các khoản cho vay của ngân hàng.
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng thấp và ngược lại.