chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về cách thức cũng như phương hướng nghiên cứu của đề tài, từ đó có thể tìm ra được những bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố đo lường RRTD lên HQHĐKD của ngân hàng. Bên cạnh đó còn cho thấy sự cần thiết của đề tài nghiên cứu khi nhận diện được RRTD, từ đó đề xuất các gợi ý nhằm hạn chế RRTD và nâng cao HQHĐKD của các NHTMCP Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng 2.1 Khái niệm Cũng như các loại hình kinh doanh khác, do bản chất đặc thù của hoạt động ngân hàng mà tồn tại những rủi ro như các doanh nghiệp thông thường bên cạnh những rủi ro mang tính đặc thù của ngành ngân hàng. Với vai trò là trung gian tài chính thì việc huy động nguồn vốn và cung cấp tín dụng đã dẫn đến hai rủi ro quan trọng nhất trong hoạt động của ngân hàng là rủi ro thanh khoản và RRTD.
Việc cấp tín dụng là hoạt động truyền thống và nguồn thu nhập chính của các NHTMCP thì việc quản lý RRTD ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng (Gizaw và các cộng sự, 2015). Khi thực hiện hoạt động cấp tín dụng, các ngân hàng sẽ đối mặt với RRTD liên quan đến việc khách hàng không muốn hoặc không thể hoàn trả các khoản cấp tín dụng một cách đúng hạn và đầy đủ, dẫn đến làm cho ngân hàng có khả năng thiệt hại về thu nhập cũng nguồn vốn. RRTD có bao gồm hai loại là rủi ro lường trước được và rủi ro không lường trước được. Đối với rủi ro lường trước được là khi ngân hàng đánh giá và định lượng được chất lượng tín dụng thông qua các quá trình cấp và quản lý tín dụng, trên cơ sở đó mà ngân hàng sẽ tiến hành trích lập dự phòng RRTD theo luật định nhằm hạn chế thiệt hại có thể xảy ra khi không thu hồi được các khoản cấp tín dụng.
Ngoài ra rủi ro không lường trước được là rủi ro nằm ngoài các các đánh giá cũng như tiên liệu của ngân hàng, do đó ngân hàng bù đắp rủi ro này bằng chính vốn chủ sở hữu của họ để phòng ngừa. Để hạn chế RRTD thì hệ thống tài chính cần phải có tỷ lệ vốn cao, đa dạng hóa dịch vụ, chia sẻ thông tin về người vay giữa các ngân hàng, ổn định lãi suất, giảm tỷ lệ nợ xấu, gia tăng tỷ lệ tiền gửi và tỷ lệ tín dụng. Các khoản nợ xấu cần được giảm theo ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2006) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Gestel và Baesens (2008), RRTD là rủi ro mà người vay nợ không thể trả được hoặc không sẵn lòng chi trả theo nghĩa vụ nợ. RRTD xảy ra khi người vay nợ không thể trả hoặc không thể trả đúng hạn các nghĩa vụ nợ.
Theo Das (2006), RRTD liên quan đến rủi ro tổn thất phát sinh từ việc không trả được nợ của bên có nghĩa vụ vay, nghĩa là không tôn trọng và đáp ứng các nghĩa vụ pháp lý hoặc những thay đổi về chất lượng tín dụng ảnh hưởng đến giá trị các công cụ tài chính. Theo Ủy ban giám sát Basel, RRTD xuất hiện khi có sự biến động làm thay đổi giá trị thị trường trong danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng, RRTD bao gồm thiệt hại có thể lường trước được (Experted Loss-thiệt hại dự kiến trong khoảng thời gian cấp tín dụng dựa trên số liệu thống kê trong quá khứ) và thiệt hại không thể lường trước được (Unexperted Loss-thiệt hại có thể xảy ra xung quanh giá trị thiệt hại có thể dự kiến được). RRTD được định nghĩa là khả năng mà khách hàng vay của ngân hàng hoặc một bên đối tác sẽ không đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận với ngân hàng một cách đúng hạn. Trong RRTD có rủi ro vỡ nợ là rủi ro xuất phát từ người có nghĩa vụ tín dụng khi một hoặc cả hai sự kiện sau xảy ra: Khách quan: Bên có nghĩa vụ đã quá hạn trên 90 ngày đối với bất cứ nghĩa vụ tín dụng Chủ quan: Bên có nghĩa vụ không muốn hoàn trả các nghĩa vụ tín dụng của mình mà không có bất cứ nguồn lực nào để thu hồi nợ, ví dụ: giải chấp tài sản bảo đảm (TSBĐ).
Theo World Bank, RRTD bao gồm rủi ro vỡ nợ là rủi ro mà khi một bên đối tác không thể thực hiện được nghĩa vụ đã thỏa thuận và rủi ro về thiệt hại là rủi ro khi một bên không thể thực hiện được nghĩa vụ đã thỏa thuận dẫn đến thiệt hại cho người cho vay bao gồm thiệt hại về khoản lỗ trên sổ sách kế toán và thiệt hại về lợi ích kinh tế. Theo các khái niệm nêu trên thì ta có thể tóm tắt các nội dung chính về RRTD cơ bản như sau: RRTD là những rủi ro có xác suất xuất hiện những biến cố LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 không mong đợi ảnh hưởng đến khả năng thu hồi đầy đủ và đúng hạn của các khoản cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho thuê tài chính…) của ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng, gây thiệt hại thực tế và trực tiếp đến ngân hàng về thu nhập và nghiêm trọng hơn có thể tổn thất về nguồn vốn của ngân hàng. Những biến cố này liên quan đến các yếu tố bên ngoài (thể chế, chính trị, chính sách kinh tế….) và bên trong ngân hàng (chính sách tín dụng, quản lý tín dụng…) cũng như nguyên nhân khách quan và chủ quản (mong muốn trả nợ của người vay, rủi ro đạo đức…) ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay một cách đầy đủ và đúng hạn.2 Phân loại rủi ro tín dụng RRTD được chia làm hai loại căn cứ theo nguyên nhân phát sinh là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk) (Trần Huy Hoàng, 2011). Rủi ro giao dịch: là loại RRTD mà liên quan đến nghiệp vụ thẩm định khách hàng để cấp tín dụng của ngân hàng, theo đó RRTD bao gồm rủi ro lựa chọn là loại rủi ro liên quan đến khâu lựa chọn những phương án vay vốn hiệu quả đến quyết định cho vay, rủi ro bảo đảm liên quan đến khâu thẩm định tài sản đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ liên quan đến khâu công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm hệ thống xếp hạng rủi ro và xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: là loại RRTD liên quan đến những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng và được chia làm hai loại: rủi ro nội tại (intrinsic risk) và rủi ro tập trung (concentration risk). Theo đó rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố hoặc các đặc điểm riêng có mang tính cá biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Trong khi đó rủi ro tập trung là rủi ro xảy ra khi trong danh mục cho vay của mình, ngân hàng tập trung vốn vay cho quá nhiều đối với một số đối tượng khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay rủi ro cao.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Đo lường chất lượng tín dụng để nhận diện và đánh giá được RRTD mà ngân hàng đang gặp phải là nội dung quan trọng trong việc phân tích tính hiệu quả và an toàn vốn của các ngân hàng. Để đánh giá RRTD của các ngân hàng theo các nghiên cứu trước đây trên thế giới ta có thể thông qua các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu thông thường được hiểu là các khoản nợ bị quá hạn hoặc bị đánh giá là không có khả năng trả nợ dẫn đến quá hạn trong tương lai. Điều này thường xảy ra khi khách hàng vay có tình trạng mất khả năng chi trả dù khoản cấp tín dụng chưa đến hạn, đã tuyên bố phá sản hoặc có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chưa có một tiêu chuẩn chung nhất định về nợ xấu, các tổ chức quốc tế (ECB, IMF, BIS) cũng chỉ đưa ra những gợi ý về nợ xấu.
Sau đây là một số quan điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam: Theo ngân hàng trung ương châu âu (ECB), nợ xấu được hiểu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi nợ (người có nghĩa vụ nợ bỏ trốn hoặc ngân hàng không thể liên lạc, không còn tài sản để xử lý và thu hồi nợ) hoặc không thể thu hồi nợ một cách đầy đủ cho ngân hàng (do người có nghĩa vụ nợ không còn khả năng thanh toán nợ một đầy đủ như đã thỏa thuận trong quá khứ mà không thể gia hạn nợ, khoản nợ mà tài sản đảm bảo khi xử lý không đủ thu hồi nợ hoặc phần thu hồi được ít hơn nợ theo phán quyết của toà án). Với quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa bởi hai yếu tố: (i): khoản vay không có khả năng được thu hồi, và (ii): mặc dù đã áp dụng các biện pháp thu hồi nợ như xử lý tài sản nhưng giá trị thu hồi là vẫn ít hơn so với khoản nợ. Như vậy, quan điểm của ECB khi tiếp cận đến nợ xấu được dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. Theo quan điểm của Financial Soundness Indicators Guide (IMF), được cho là nợ xấu khi: việc thanh toán gốc và lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản vay mà lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn hoặc đã tái cơ cấu, tái cấp vốn hoặc gia hạn nợ hoặc; Các khoản vay quá hạn dưới 90 ngày nhưng có những lý do như người vay bị phá sản để nghi ngờ rằng các khoản vay sẽ không được thanh toán đầy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được khoản vay đó hoặc khoản vay thay thế.