Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. M t số khái niệm cơ ản 2. Khái niệm về thu nhập của Ngân hàng thƣơng mại Thu nhập của NHTM bắt nguồn từ các khoản thu do các sản phẩm, dịch vụ và nghiệp vụ của NHTM mang lại, tuy nhiên căn cứ vào tính chất thị trường về tổng quát có thể chia thành hai loại: thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi. Thu nhập lãi Là các khoản thu nhập có tính chất lãi suất.
Các khoản thu nhập này không phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh doanh của các bên tham gia mà chỉ phụ thuộc vào số tiền và mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên, hay nói khác hơn là phụ thuộc vào thị trường lãi suất, như thu lãi tín dụng, thu lãi trái phiếu chính phủ, thu lãi trái phiếu hay lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác. Đối với các khoản thu nhập lãi này thì trong NHTM, khoản thu lãi tín dụng chiếm tỷ trọng lớn và là khoản thu quan trọng nhất bởi lẽ hoạt động tín dụng là hoạt động chính của NHTM. Thu nhập ngoài lãi Là tất cả các khoản thu nhập còn lại khác của NHTM không phụ thuộcvào thị trường lãi suất, bao gồm: - Các kho n thu t phí dịch vụ và hoa hồng: Các khoản thu phí bảolãnh, phí mở thư tín dụng, phí thu hộ, phí chi hộ, phí chuyển tiền, phídịch vụ thanh toán… và các khoản hoa hồng như hoa hồng nghiệp vụ“bancassurance” là nghiệp vụ NHTM kết hợp với các công ty bảo hiểmđể bán các sản phẩm bảo hiểm. - Các kho n thu t hoạt động thương mại:Là các khoản thu phát sinhtừ hoạt động kinh doanh mua bán của NHTM, có thể kể như kinhdoanh mua bán chứng khoán, kinh doanh mua bán vàng, kinh doanhmua bán ngoại hối… - Các kho n thu t hoạt động đầu tư: Là các khoản thu đầu tư như thutừ chứng khoán đầu tư hay thu từ góp vốn thành lập công ty ví dụ nhưthành lập công ty con.
Ở các NHTM Việt Nam phổ biến là thành lậpcác Công ty chứng khoán, bất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động sản, cho thuê tài chính, bảo hiểm.ho c góp vốn thành lập mới ho c mua lại cổ phần trong các doanhnghiệp hay liên doanh với các doanh nghiệp khác thành lập công ty liên doanh. Lợi nhuận được chia cuối năm của các công ty này gópphần tạo nên khoản thu đầu tư cho NHTM - Các kho n thu khác:Là các khoản thu từ các hoạt động không thường xuyên ho c mang tính bất thường do ví dụ như các khoản thu về từ nghiệp vụ mua bán nợ, thanh lý tài sản,… 2. Khái niệm về đa ạng hóa thu nhập của NHTM Trong hoạt động kinh doanh, các NHTM luôn thực hiện việc đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa thu nhập là quá trình làm phong ph và đa dạng các nguồn thu nhập của ngân hàng thông qua việc đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, nghiệp vụ NHTM và các hoạt động kinh doanh khác màluật pháp không cấm. Vì thế đa dạng hóa thu nhập đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động khác nhằm mục đích gia tăng thu nhập tìm kiếm lợi nhuận.
Các phƣơng thức đa ạng hóa thu nhập của NHTM Theo khái niệm trên rõ ràng việc đa dạng hóa thu nhập gồm ba phương thức hoạt động chính là mở rộng sản phẩm, mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác, vì thế hiện nay trên thế giới người ta phân chia các phương thức đa dạng hóa thu nhập gồm: Đa dạng hóa thu nhập thông qua việc mở rộng các chủng loại sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa thu nhập thông qua việc mở rộng thị trườngvà đa dạng hóa hoàn toàn theo Lipczynski và các đồng tác giả (2005, trang 593). Trong các vấn đề kinh tế hiện nay, người ta thường thiên về hướng tiếp cận đo lường và định lượng, vấn đề nào muốn quản lý được thì phải đo lường được, có đo lường được thì mới quản lý được Theo hướng tiếp cận này, vấn đề đa dạng hóa đã được nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều cách đo lường. Trong một nghiên cứu, JacobA.Biker và Katharina Haaf (A.Bikker, et al., 2002) đã liệt kê 10 chỉ số đo lường đa dạng hóa trong ngành công nghiệp ngân hàng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do nhiều tác giảt rước đây đã nghiên cứu bao gồm: (1) Chỉ số k bank - Concentration Ratio(CRk); (2) Chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI); (3) Chỉ số Hall-Tideman Index (HTI); (4) Chỉ số Rosenbluth Index (RI); (5) Chỉ sốComprehensive Industrial Concentration Index (CCI); (6) Chỉ số Hannahand Kay Index (HKI); (7) Chỉ số U Index (U); (8) Chỉ số MultiplicativeHause Index (Hm); (9) Chỉ số Additive Hause Index (Ha); (10) Chỉ số Entropy Diversification Index (EDI). Rủi ro ngân hàng Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu như ai cũng có thể biết đến phạm trù này Tuy nhiên cho đến nay lại không có một khái niệm thống nhất nào về rủi ro.
Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những khái niệm rủi ro khác nhau. Những khái niệm này rất phong ph và đa dạng và khó có thể dẫn chứng hết được, tuy nhiên có thể tóm lược các nội dung chính trong tất cả các khái niệm về rủi ro bao gồm các ý: - Rủi ro là một sự không chắc chắn là một tình trạng bất ổn với nhiều khả năng có thể xảy ra. - Trong các khả năng có thể xảy ra có ít nhất một khả năng đem lại một kết quả không mong muốn. - Kết quả không mong muốn khi xảy ra có thể gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng g p rủi ro.
Hiện nay, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, khái niệm rủi ro được định nghĩa một cách cụ thể hơn là: “Rủi ro là kh năng x y ra tổn thất gây ra bởi các sự kiện không mong muốn và tổn thất này chính là sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng” Như vậy với định nghĩa rủi ro như trên các rủi ro phải ước đoán được xác suất xảy ra và các tổn thất được đo lường bằng sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng Hay nói khác hơn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng khi nói đến rủi ro là nói đến quan hệ giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng. Lợi nhuận kỳ vọng chính là lợi nhuận trung bình có trọng số là xác suất xảy ra các giá 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị lợi nhuận, và sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn Độ lệch chuẩn chính là thước đo của rủi ro. Phân loại rủi ro Rủi ro của NHTM rất đa dạng và có thể được phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau. Một số loại rủi ro của NHTM cũng giống như các doanh nghiệp khác như rủi ro pháp lý, rủi ro chiến lược, rủi ro năng lực… và các loại rủi ro xét đến cùng là sự tổn thất là sự sụt giảm lợi nhuận.
Tại NHTM có 4 loại rủi ro cơ bản gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro thanh khoản (Rose, 1999). Trong bài nghiên cứu này, tác giả xem xét đến rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Đây là rủi ro tổng thể bao gồm các loại rủi ro trên nhằm đánh giá tác động của đa dạng hóa cấu tr c thu nhập đến nguy cơ phá sản của các NHTMCP Việt Nam 2. Đo lƣờng rủi ro Việc đo lường rủi ro phá sản đối với các NHTM là hết sức cần thiết bởi lẽ chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần đo lường các rủi ro làm cơ sở cho việc đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận.
Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý, kiểm soát được vànằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính của ngân hàng. Qua việc phân tích các loại rủi ro cơ bản trên ta có thể thấy được đây là những rủi ro tất yếu và không thể loại trừ của NHTM, những loại rủi ro này khi xảy ra đều mang lại tổn thất về lợi nhuận cho NHTM Đối với từng loại rủi ro cơ bản trên, người ta đều có cách lượng hóa để đo lường chúng, tuy nhiên trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài này chính là đo lường mức độ rủi ro phá sản hay rủi ro tổng thể của NHTM Theo định nghĩa rủi ro đã nêu, đo lường mức độ rủi ro chính là đo lường độ tổn thất mà rủi ro gây ra và mức độ tổn thất này được đo bằng sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng trong đó độ lệch chuẩn là thước đo Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới khi nghiên cứu về rủi ro phá sản của NHTM thường sử dụng chỉ số Z-Score hay c n gọi là chỉ số hiệu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉnh rủi ro làm công cụ để đo lường mức độ rủi ro phá sản ngân hàng. Theo nghiên cứu của Sissy và cộng sự 2016 và nghiên cứu của Kohler 2013 (được đăng trên SJR: www.com) thì chỉ số Z-Score được tính như sau: ̅̅̅̅̅̅ ̅̅̅̅̅̅ Trong đ Z-Score: Chỉ số hiệu chỉnh rủi ro; ̅̅̅̅̅̅: Lợi nhuận sau thuế trên Tổng tài s n bình quân của hai năm liền kề; ̅̅̅̅̅̅: Bình quân vốn chủ sở hữu của 2 năm liền kề trên tổng tài s n bình quân của 2 năm liền kề. Chỉ số Z-Score được tính dựa trên tổng số các số bình quân của lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản và vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (vì rủi ro được tính trong thời kỳ còn ROA, E, A trên báo cáo tài chính là số thời điểm nên tác giả đã lấy số bình quân) Đối với một NHTM, tại một thời điểm tổng vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế có được là tất cả nguồn lực của chủ sở hữu.