chương 1 này, tác giả đã giới thiệu tổng quát về toàn bộ bài nghiên cứu. Qua đó, cũng nhận thấy được ý nghĩa quan trọng của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết, kiểm soát và tác động đến tăng trưởng tín dụng như thế nào. Tác giả tiến hành nghiên cứu này với mong muốn tìm ra những bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của CSTT đến tăng trưởng tín dụng, từ đó đưa ra một số kiến nghị cho các nhà hoạch định tài chính có thể tham khảo thêm để quản trị ngân hàng một cách hiệu quả hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương này sẽ trình bày tổng quan về lý thuyết liên quan tới chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng và sự tác động của chính sách tiền tệ đối với tăng trưởng tín dụng.
Bên cạnh đó, chương này sẽ sơ lược một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây trong và ngoài nước để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Từ cơ sở đó, tác giả xây dựng và lựa chọn các giả thuyết phù hợp với bài nghiên cứu. Chính sách tiền tệ 2. Khái niệm chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế nhằm thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế qua đó đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định của đất nước.
NHNN thực hiện Chính sách tiền tệ bằng cách thay đổi lượng tiền trong lưu thông hay mức lãi suất ngắn hạn danh nghĩa từ đó gây nên những thay đổi trong các biến kinh tế vĩ mô bằng các kênh truyền dẫn như kênh lãi suất, kênh tỷ giá, giá tài sản, kênh tín dụng, kênh tiền tệ…( Mishkin, 1995) Theo Điều 3 luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Với định nghĩa này chúng ta hiểu rằng, chính sách tiền tệ phải là chính sách ở cấp độ vĩ mô mang tính quốc gia, hướng đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô như ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát, tiêu dùng và tăng trưởng. Mục tiêu của chính sách tiền tệ Tùy thuộc vào tính chất đặc thù cũng như tình hình kinh tế, trong mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia đều có một CSTT riêng. Tuy nhiên, CSTT ở các quốc gia đều theo đuổi mục tiêu cuối cùng là điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm đạt mục tiêu ổn định giá trị tiền tệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tạo công ăn việc làm, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đảm bảo an sinh xã hội.
Các mục tiêu cuối cùng này thường khó có thể đạt được một cách trực tiếp và ngay lập tức, mà nó thường được đặt ra trong dài hạn với tính chất vĩ mô và mang tầm chiến lược trong một thời kỳ phát triển. Do đó, để đạt được các mục tiêu cuối cùng, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt ra các mục tiêu trung gian và mang tính ngắn hạn. Ổn định giá trị đối nội của đồng tiền trên cơ sở kiểm soát lạm phát Kiểm soát và duy trì lạm phát ở mức có thể chấp nhận được là mục tiêu đặt ra cho CSTT của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ. Kiểm soát lạm phát được biểu hiện trước hết là ổn định giá trị đối nội của đồng tiền, tức là sức mua của đồng tiền đối với hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước.
Bằng việc sử dụng phù hợp các công cụ CSTT như lãi suất, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng. NHNN có thể kiểm soát được lạm phát thông qua việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế. Khi có dấu hiệu lạm phát tăng cao, giá cả không còn phản ánh đúng giá trị của hàng hóa, đồng nội tệ mất giá. NHNN sẽ điều hành các công cụ CSTT theo hướng thắt chặt, như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tái cấp vốn cho các NHTM.
để thu hẹp lượng tiền trong lưu thông, giảm bớt áp lực gia tăng lạm phát và ngược lại. Ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền trên cơ sở cân bằng thanh toán quốc tế và ổn định tỷ giá hối đoái Giá trị đối ngoại của đồng tiền được biểu hiện thông qua tỷ giá hối đoái – đại lượng so sánh về mặt giá trị giữa đồng tiền trong nước với một đồng tiền nước ngoài. Khi ấn định tỷ giá thấp đồng nghĩa với việc nâng giá trị đồng tiền nội địa so với đồng tiền ngoại tệ. Với tỷ giá hối đoái thấp, giá hàng hóa nhập khẩu khi đổi ra tiền nội tệ sẽ rẻ hơn, do đó tỷ giá hối đoái thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu hàng hóa, hạn chế xuất khẩu.
Từ đó hạn chế sự dịch chuyển ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước, tác động đến lượng ngoại hối và cán cân thanh toán quốc gia và ngược lại. Một tỷ giá cao hay thấp đều có tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế. Do đó, nhiệm vụ của NHNN là ấn định một tỷ giá sao cho phù hợp với tình hình kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quốc gia, để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất - kinh doanh, tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; vừa đảm bảo phục vụ cho tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát. Tăng trưởng kinh tế Chính sách tiền tệ có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách lãi suất và cung ứng tiền của ngân hàng trung ương.
Khi nền kinh tế ở trạng thái phát triển quá nóng, lạm phát cao, chính sách thắt chặt cung ứng tiền làm cho tiền bạc trở nên khan hiếm hơn và chi phí phải bỏ ra để có được tiền trở nên đắt đỏ. Sản xuất bị thiếu vốn, người mua thì thiếu tiền, buộc họ phải giảm cả tiêu dùng lẫn đầu tư, sản suất bị thu hẹp. Trong hoàn cảnh đó thất nghiệp cũng gia tăng, thu nhập của nhân dân giảm…nền kinh tế dễ bị rơi vào tình trạng suy thoái. Ngược lại với chính sách nới lỏng sẽ làm cho tiền tệ trở nên dồi dào với chi phí thấp, khi đó người tiêu dùng, các nhà sản xuất kinh doanh sẽ dễ dàng kiếm tiền hơn.
Điều này kích thích họ tiêu dùng cho cuộc sống và tiêu dùng cho đầu tư nhiều hơn, sản xuất liên tục được mở rộng, thất nghiệp giảm và gia tăng thu nhập quốc dân. Vì thế, NHNN sẽ thông qua các công cụ của CSTT để đạt được mục tiêu tăng trưởng mong muốn. Tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp Bên cạnh việc theo đuổi các mục tiêu như tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đối nội, đối ngoại của đồng nội tệ hay kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý thì còn phải đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội. Mục tiêu về công ăn việc làm cao, duy trì tỷ lệ thất nghiệp hợp lý là mục tiêu quan trọng của CSTT.
Khi CSTT của NHNN theo hướng mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng đầu tư sản xuất, thì các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ cần đến nhiều lao động hơn, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống. Ngược lại, khi CSTT được điều chỉnh theo hướng thắt chặt, khi đó hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh sẽ bị thu hẹp, kéo theo đó là việc cắt giảm nhân công ở các nhà máy, xí nghiệp, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng cao. Tuy nhiên, đảm bảo mục tiêu công ăn việc làm cao không có nghĩa là tỷ lệ thất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghiệp sẽ phải bằng không. Mỗi quốc gia cần xác định một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên hợp lý; từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm cân bằng giữa các mục tiêu chung của nền kinh tế như mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh, chống suy thoái kinh tế, tăng trưởng kinh tế ổn định, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Tóm lại, khi nghiên cứu một cách riêng lẻ thì mỗi mục tiêu là độc lập với nhau song trong quá trình thực thi và điều hành CSTT thì giữa các mục tiêu luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau. Để đạt được một mục tiêu nhất định, trong một chừng mực nào đó có thể làm tác động đến những mục tiêu khác, chẳng hạn: khi kiềm chế được lạm phát thì nguy cơ tăng trưởng giảm, suy thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao; hay ngược lại khi thực hiện mục tiêu tăng trường kinh tế, khắc phục suy thoái, mở rộng đầu tư, tạo công ăn việc làm cho người lao động thì khó có thể đạt được mục tiêu kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Do đó, NHNN cần sử dụng các công cụ CSTT như thế nào để đạt được các mục tiêu trọng tâm đặt ra, đồng thời tận dụng ưu thế, đặc điểm của từng giai đoạn nhằm kiềm chế đến mức tối đa những mặt hạn chế phát sinh trong quá trình điều hành và thực thi. Công cụ thực thi chính sách tiền tệ Để có thể thực hiện được mục tiêu ổn định và tăng trưởng thông qua việc cung ứng tiền và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, ngân hàng trung ương có thể sử dụng các công cụ khác nhau, những công cụ này có nhiều biến đổi qua thời gian và trong những bối cảnh kinh tế khác nhau được sử dụng, phối hợp với nhau theo một định hướng, chủ đích nhất định của người làm chính sách.
Về cơ bản, NHTW sử dụng các công cụ như: - Tái cấp vốn: Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho TCTD. NHNN quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho TCTD theo các hình thức như cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá; chiết khấu giấy tờ có giá; các hình thức tái cấp vốn khác. - Lãi suất: NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi. Trong trường hợp thị trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.