Chương 1 : Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan tác động của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng cấu trúc sở hữu và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam. Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và giải pháp về cấu trúc sở hữu nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Giới thiệu chương 2 Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh lợi tại NHTM bắt đầu bằng việc xem lại lý thuyết về tỷ suất sinh lợi, cấu trúc sở hữu của NHTM và các lý thuyết có liên quan đến vấn đề cấu trúc sở hữu tác động đến tỷ suất sinh lợi tại NHTM. Kế đến, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định mô hình nghiên cứu tại Việt Nam.1 Tổng quan về tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tỷ suất sinh lợi Khả năng sinh lợi của một ngân hàng là kết quả sử dụng các tài sản vật chất và tài sản tài chính mà ngân hàng nắm giữ, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được đòi hỏi là đảm bảo duy trì vốn cho ngân hàng hoạt động và phát triển (Rose, 1999). Tỷ suất sinh lợi của NHTM là một tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi trên một đơn vị tài sản, vốn chủ sở hữu… mà NHTM đạt được.
Tỷ suất sinh lợi cao cho thấy khả năng sinh lợi cao, đây là mục tiêu mà các ngân hàng quan tâm hơn hết vì thu nhập cao có thể giúp các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị trường. Tỷ suất sinh lợi còn được xem là một trong những tiêu chí dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động bên cạnh các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng.2 Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đo lường tỷ suất sinh lợi nhưng khi đề cập đến tỷ suất sinh lợi của một ngân hàng, các chỉ tiêu sau thường được sử dụng: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Về cơ bản, các chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những ý nghĩa đặc trưng riêng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return On total Asset - ROA) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là tỷ số tài chính cho biết ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ một đồng tài sản. Công thức tính: (Rose, 2004) à ROA là thước đo hiệu quả sử dụng tài sản, vì mọi tài sản đều là những khoản đầu tư của ngân hàng. ROA chỉ ra khả năng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản thành thu nhập ròng. Một mức ROA thấp là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không hiệu quả hoặc chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức.
Ngược lại, mức ROA cao phản ánh ngân hàng sử dụng một cơ cấu tài sản hợp lý, chính sách kinh doanh và đầu tư tài sản hiệu quả. Bên cạnh cách tính chỉ số ROA như trên, để phản ánh chính xác hơn tỷ suất sinh lợi của tài sản ngân hàng trong một thời kỳ, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân – ROAA (Return On Average Asset) được sử dụng thay cho ROA. Công thức tính: (Rose, 2004) à Trong đó: Tổng tài sản bình quân trong kỳ = (tổng tài sản đầu kỳ + tổng tài sản cuối kỳ) /2 2.2 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity - ROE) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu, cho biết một đơn vị tiền tệ vốn chủ sở hữu bỏ ra tạo được bao nhiêu đơn vị tiền tệ lợi nhuận ròng. ợ ậ ế Công thức tính: (Rose, 2004) ố ủ ở ữ ROE cao là mục tiêu hướng tới của bất kỳ người chủ sở hữu ngân hàng nào.
Đây là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông ngân hàng, thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của ngân hàng càng cao là cơ sở để ngân hàng tăng quy mô vốn cũng như năng lực tài chính của mình. Chỉ số ROE cao và ổn định phản ánh việc quản lý sinh lời và hiệu quả. Tuy nhiên nếu ROE quá cao so với ROA, chứng tỏ vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, ngân hàng đã huy động vốn nhiều để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cho vay, điều này có thể ảnh hưởng đến sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Bên cạnh đó, những cổ phiếu theo chu kỳ tuần hoàn (biến động cùng với nền kinh tế) thường có chỉ số ROE thấp. Tương tự như khi tính toán tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, số liệu vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối kỳ không phải là con số đại diện cho vốn chủ sở hữu trong cả một khoảng thời gian trước đó, nên không phản ánh đúng thực chất tình hình tài chính của ngân hàng trong cả thời kỳ. Vì vậy, vốn chủ sở hữu bình quân thường được sử dụng để thay thế cho vốn chủ sở hữu trong công thức tính ROE. Khi đó, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ROE được thay bằng tỷ sất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bình quân ROAE (Return on Average Equity).
Công thức tính: ợ ậ ế (Rose, 2004) Trong đó: Vốn chủ sở hữu bình quân = (vốn chủ sở hữu đầu kỳ + vốn chủ sở hữu cuối kỳ) /2 2.2 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại NHTMCP về bản chất là một công ty cổ phần, vì thế các khái niệm về cấu trúc sở hữu NHTM hoàn toàn kế thừa từ khái niệm cấu trúc sở hữu công ty cổ phần.1 Khái niệm cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu là khái niệm dùng để mô tả sự đa dạng các thành phần sở hữu của một công ty cổ phần. Khái niệm cấu trúc sở hữu được Jensen và Meckling đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1976, để chỉ phần vốn được nắm giữ bởi những thành viên bên trong công ty (thành phần quản lý trực tiếp) và bên ngoài công ty (nhà đầu tư không giữ vai trò quản lý trực tiếp). Ngày nay, cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân chia quyền sở hữu giữa các chủ sở hữu công ty (Jiang, 2004). Các nhà nghiên cứu tiếp cận cấu trúc sở hữu theo hai hướng: sự tập trung sở hữu (ownership concentration) và sự hỗn hợp sở hữu (ownership mix) (Gursoy và Aydogan, 1998).
Với cách tiếp cận sự tập trung sở hữu, các nhà nghiên cứu quan tâm đến tỷ lệ cổ phần được nắm giữ bởi một số nhất định các cá nhân, tổ chức hoặc gia đình. Không có một định nghĩa chung cho việc xác định mức độ tập trung quyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sở hữu của một công ty. Thông thường, tổng tỷ lệ sở hữu của 3, 5 đôi khi là 10 cổ đông lớn nhất; hoặc là tổng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn (những cổ đông nắm giữ trên 5% tổng số cổ phần của công ty) được sử dụng làm thước đo tập trung quyền sở hữu. Với cách tiếp cận sự hỗn hợp sở hữu, tính chất kinh tế đặc thù của các cổ đông và tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi các cổ đông này được quan tâm.
Các thành phần kinh tế sau thường được xem xét khi nghiên cứu về sự hỗn hợp trong cấu trúc sở hữu: thành phần sở hữu nhà nước, thành phần sở hữu nước ngoài, thành phần sở hữu là nhà quản lý, thành phần sở hữu là các tổ chức. Tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, khi nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP, thành phần sở hữu nhà nước và nước ngoài thường được quan tâm hơn.2 Phân loại cấu trúc sở hữu NHTM Theo hướng tiếp cận sự tập trung sở hữu, cấu trúc sở hữu được phân thành hai loại là cấu trúc sở hữu tập trung và cấu trúc sở hữu phân tán. + Cấu trúc sở hữu tập trung: Quyền sở hữu lẫn quyền kiểm soát tập trung vào một số cá nhân, gia đình, ban quản lý, hoặc các định chế cho vay. Những cá nhân và nhóm người này thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức NHTM vận hành.
Tại các NHTM có cấu trúc sở hữu tập trung, các cổ đông lớn thường được xem là hệ thống nội bộ của ngân hàng đó. Những cổ đông lớn này kiểm soát ngân hàng trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành. Đối với NHTMCP có cấu trúc sở hữu tập trung, cổ đông thiểu số không thể tác động vào quyết định cao cấp, mặc dù có quyền biểu quyết. + Cấu trúc sở hữu phân tán: Các cổ đông sở hữu một số ít cổ phần của NHTM và không có cổ đông nào sở hữu số cổ phần nhiều vượt trội, quyền kiểm soát hoạt động của ngân hàng do ban giám đốc nắm giữ.
Trong trường hợp này, các cổ đông nhỏ, ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành. Bởi vậy họ được gọi là người bên ngoài hay hệ thống bên ngoài của ngân hàng đó. Không cổ đông nào chi phối được hoạt động của ngân hàng có cấu trúc sở hữu phân tán; vì vậy, cổ đông thiểu số phải thông qua phiếu bầu của mình để có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo hướng tiếp cận sự hỗn hợp trong cấu trúc sở hữu, cấu trúc sở hữu bao gồm nhiều thành phần như: + Thành phần nhà nước: được thể hiện bởi tổng tỷ lệ sở hữu của các tổ chức nhà nước bao gồm doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp do các doanh nghiệp nhà nước chi phối trong tổng vốn chủ sở hữu.