đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nghĩa nghiên cứu, hư ng há nghiên cứu và kết cấu của luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp phản ánh khả năng s dụng các nguồn lực trong quá trình kinh doanh, khả năng tổ chức và quản lý của doanh nghiệ để đạt được ở mức độ cao nhất các mục tiêu kinh tế – xã hội với mức chi phí thấp nhất. Đối với các NHTM, hiệu quả kinh oanh là đạt được lợi nhuận tối đa với mức chi phí tối thiểu. Trong đó, lợi nhuận chính là mức chênh lệch giữa thu nhập từ toàn bộ các hoạt động kinh doanh của NHTM và toàn bộ các chi hí ùng để duy trì sự tồn tại, phát triển của NHT Chi hí có trước, là c sở tạo nên thu nhậ Nhưng ngược lại, thu nhập tạo ra lại được ùng để trang trải cho các chi hí đã tạo nên nó.
Nói tóm lại, thu nhậ và chi hí luôn đi đôi với nhau, kết hợp với nhau tạo nên lợi nhuận, qua đó phản ánh hiệu quả kinh doanh của các NHTM. NHT cũng là một doanh nghiệp nên mục tiêu chính cũng là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc thù và có nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia Do đó, bên cạnh mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM còn phải tránh được những rủi ro lớn có thể phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, rủi ro phát sinh nợ xấu chính là rủi ro lớn nhất mà các NHTMVN phải đối mặt.
Khi nợ xấu gia tăng, các NHT phải đối mặt với khả năng mất vốn cao, làm chi phí (chi phí trích lập dự phòng rủi ro, chi phí x lý nợ xấu) gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh doanh nói chung của ngân hàng. Tóm lại, lợi nhuận và rủi ro là hai yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh, góp phần thể hiện hiệu quả kinh doanh của các NHTM. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong nhiều nghiên cứu trước đây, hiệu quả kinh doanh của các NHTM được các nhà nghiên cứu đo lường b ng hai hư ng há là hư ng há tham số/ phi tham số hoặc hư ng há s dụng các chỉ số tài chính Trong đề tài, tác giả lựa chọn hư ng há thứ hai để đo lường hiệu quả kinh doanh của các NHTMVN. Theo Claessens (2001), Bonin (2004), Berger (2005), hai trong số các chỉ số tài chính là ROA (lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản bình quân) và ROE (lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu b nh quân) được s dụng để thể hiện khả năng sinh lời và NPL (tỷ lệ nợ xấu/tổng ư nợ khách hàng) thể hiện chất lượng tài sản, qua đó hản ánh được hiệu quả kinh doanh chung của các NHTM.2 Cổ đông chiến lược của ngân hàng Theo Thông tư số 10/2011/TT-NHNN ngày 22/04/2011 v/v quy đ nh tiêu chí lựa chọn cổ đông chiến lược đối với NHT Nhà nước cổ phần hóa, cổ đông chiến lược là cổ đông lớn có uy tín, có năng lực tài chính và khả năng hỗ trợ nhiều mặt cho doanh nghiệp.
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu, cổ đông chiến lược của các NHTMVN là cổ đông chiến lược phải tối thiểu hỗ trợ ngân hàng trong việc nâng cao tr nh độ quản lý, cải tiến công nghệ, quản tr rủi ro, phát triển d ch vụ của ngân hàng và các lĩnh vực khác theo đ nh hướng của ngân hàng trong từng thời k. Ngoài ra, cổ đông chiến lược của ngân hàng cũng hải có lợi ích chiến lược phù hợp với đ nh hướng của ngân hàng, không có xung đột lợi ích, không thâu tóm, không cạnh tranh không lành mạnh đối với cả hàng, cổ đông khác của ngân hàng và các TCTD khác.3 Cổ đông chiến lược nước ngoài Cũng theo Thông tư số 10/2011/TT-NHNN ngày 22/04/2011, cổ đông chiến lược nước ngoài là TCTD nước ngoài hoặc tổ chức tài chính nước ngoài đá ứng được các điều kiện sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ nhất, có TTS tối thiểu 20 tỷ đô la ỹ vào trước một năm thời điểm đăng k trở thành cổ đông chiến lược và có h n 5 năm kinh nghiệm hoạt động trên quy mô quốc tế. Thứ hai, được xếp hạng bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập quốc tế (Fitch ating, oo y’s, Stan ar & Poor…) r ng có thể thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động b nh thường khi điều kiện kinh tế thay đổi không thuận lợi. Thứ ba, không là cổ đông chiến lược, cổ đông lớn hoặc cổ đông sáng lập tại bất k tổ chức tín dụng nào tại Việt Nam và có cam kết b ng văn bản về việc hỗ trợ và cam kết gắn bó lâu dài với các NHTM trong nhiều lĩnh vực quy đ nh tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 10/2011/TT-NHNN ngày 22/04/2011.
Trong luận văn, tác giả chỉ lựa chọn các cổ đông chiến lược nước ngoài của các NHTMVN có tỷ lệ sở hữu tối thiểu 5% vốn góp (theo Berger, 2005). Khi có tỷ lệ sở hữu tối thiểu 5% vốn góp, các cổ đông sẽ trở thành cổ đông lớn và có quyền tham gia vào các hoạt động quản tr của tổ chức. Từ đó, các cổ đông chiến lược nước ngoài mới có thể tham gia sâu h n vào hoạt động kinh doanh nói chung của các NHTM, giúp cải thiện cấu trúc quản tr nội bộ và hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chuyển giao công nghệ, quản lý rủi ro, nhân sự….4 NHTM thuộc sở hữu của Nhà nước Trong các nghiên cứu trước, các tác giả chủ yếu s dụng một biến duy nhất để đại diện cho thuộc tính ngân hàng thuộc/ không thuộc sở hữu của nhà nước. Chẳng hạn như theo La Porta (2002), La Porta, Lo ez-de-Silanes & Shleifer (1999), ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước khi tỷ lệ sở hữu nhà nước chiếm trên 20% vốn góp.
Tuy nhiên, theo Berger (2009) phân chia cấu tr c sở hữu trong các NHT tại Trung Quốc thành: BigFour State-o ne banks (4 NH lớn o thuộc sở hữu nhà nước); Non-Big Four majority state-owned banks (các ngân hàng có vốn nhà nước chiếm trên 50% loại trừ nhóm BigFour); Majority Private domestic (các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân với tỷ lệ vốn tư nhân trong các ngân hàng trên 50%); ajority LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 foreign banks (các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài với tỷ lệ sở hữu của các cổ đông nước ngoài chiếm trên 50%) và mixed ownership banks (các ngân hàng không thuộc các loại h nh sở hữu đã kể trên). Do đó, tác giả phân chia cấu tr c sở hữu của nhà nước trong ngân hàng gồm: các NHTM Nhà nước có tỷ lệ vốn Nhà nước trên 50% và các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước có tỷ lệ vốn Nhà nước từ 20% đến 50% vốn góp (không thuộc nhóm 5 NHTM Nhà nước).5 NHTM mới chuyển đổi NHTM mới chuyển đổi là các ngân hàng nông thôn chuyển thành ngân hàng thành th và các ngân hàng thành lập mới. Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012 của Ủy ban kinh tế Quốc hội, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu cao và hiệu quả kinh doanh thấp trong các NHTMVN là tình trạng chuyển đổi quá nhanh các ngân hàng nông thôn thành ngân hàng thành th và các ngân hàng thành lập mới Trong giai đoạn 2005-2007, hàng loạt ngân hàng nông thôn với quy mô vốn còn nhỏ, quy mô hoạt động cũng còn hẹp, khả năng quản tr thì hạn chế đã đư c cấp phép chuyển đổi thành các NHT đô th và phải đá ứng những yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu theo Ngh đ nh số 141/2006/NĐ-CP. Các ngân hàng mới thành lậ sau năm 2005 cũng tư ng tự.
Tuy nhiên, sau khi buộc phải tăng vốn chủ sở hữu lên gấp từ 10 hay 20 lần trong thời gian ngắn, các ngân hàng này phải đối mặt với một khó khăn Đó là năng lực và tr nh độ quản tr của các ngân hàng này không theo k p với tốc độ tăng trưởng vốn và tài sản, từ đó làm cho chất lượng tín dụng và chất lượng tài sản thấp, nợ xấu tăng cao, hiệu quả kinh doanh ngày càng giảm sút.6 NHTM niêm yết NHTM niêm yết là các NHT đá ứng đầy đủ các điều kiện niêm yết theo quy đ nh của Pháp luật và có cổ phiếu được niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX. Theo Huang et al. (2010) và Farazi et al. (2011), mối tư ng quan giữa các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 NHTMVN được niêm yết và hiệu quả kinh doanh là đồng biến vì sau khi niêm yết, các ngân hàng này đạt được hiệu quả biên lớn h n o gia tăng sự giám sát từ th trường và công bố thông tin minh bạch h n.1 Tác động của cổ đông chiến lược nước ngoài đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Trên thế giới có nhiều quan điểm l thuyết và nghiên cứu thực nghiệm khác nhau về cổ đông chiến lược nước ngoài và hiệu quả kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.
Theo Bonin et al. (2004), về lý thuyết có quan điểm giải thích mối tư ng quan tích cực giữa cổ đông chiến lược nước ngoài và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Thứ nhất, cổ đông chiến lược nước ngoài thường đầu tư vào anh mục các ngân hàng có hiệu quả cao, vì lợi nhuận hoặc những mục tiêu lâu dài tùy thuộc vào danh mục đầu tư của họ. Thứ hai, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài gi tăng vốn, cải thiện cấu trúc quản tr nội bộ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chuyển giao công nghệ, quản lý rủi ro, đào tạo nhân sự… gó hần gia tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Thứ ba, khi một cổ đông chiến lược nước ngoài tham gia đầu tư vào một ngân hàng sẽ tạo một tín hiệu tích cực đối với ngân hàng đó Tuy nhiên, quan điểm của Buch (200 ), trích trong Berger (2005) th ngược lại, cổ đông chiến lược nước ngoài phải ch u bất lợi về hoạt động quản lý từ xa, khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, khả năng tiếp cận và x lý các thông tin mềm đ a hư ng hoặc sự tham gia của các cổ đông chiến lược nước ngoài b giới hạn về tỷ lệ sở hữu vốn và mức độ kiểm soát, tham gia quản tr ngân hàng ảnh hưởng đến việc chuyển giao công nghệ và quản tr .