Chương 1, giới thiệu tổng quan về luận văn nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của bài luận văn. Chương 2, trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng, biến đặc thù ngân hàng đến nợ xấu. Chương 3, nêu phương pháp và cách thực hiện đề tài bao gồm xử lý dữ liệu và phương thức thực hiện. Chương 4, thực hiện phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Chương 5, tổng kết kết quả đạt được đồng thời nêu lên những hạn chế của luận văn và gợi mở những hướng nghiên cứu trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY Trong chương này luận văn sẽ trình bày về Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam; lược khảo các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến nợ xấu. Các lý thuyết trên sẽ được trình bày cụ thể như sau: 2. Nợ xấu Thuật ngữ “nợ xấu” (viết tắt là NPL –Non-performing loans) có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack (2005), hoặc các khoản vay có vấn đề theo Berger và De Young, (1997) Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu, sau đây là một số quan điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam Theo quan điểm của Thế giới - Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (European Central Bank- ECB) nợ xấu gồm: Những khoản nợ không thể thu hồi được: những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ nợ; người mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ mà khách nợ đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
Khoản cho vay có thể không được thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng: những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; là những khoản nợ khách hàng vay đồng ý trả nợ nhưng giá trị tài sản không đủ để trang trải cho toàn bộ khoản nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không có khả năng trả nợ đầy đủ; những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khoản nợ mà tòa án tuyên bố khách hàng vay phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. - Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Chuẩn mực kế toán IAS 39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra.
Về cơ bản IAS39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó vẫn đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS 9.
- Khái niệm nợ xấu của Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS)2, IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế. Theo quan điểm Việt Nam Khái niệm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo thông tư mới nhất số 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493 của NHNN ban hành ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trính lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng và Quyết định 18 ban hành ngày 25/4/2007 về sửa đổi bổ sung Quyết định 493 thì: Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn) được quy định tại điều 10 và điều 11 của thông tư này. Thông tư có bổ sung thêm một số khoản nợ được xếp vào 3 nhóm này.
Nợ xấu được xác định trên hai yếu tố: Đã quá hạn 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS (chuẩn mực chung báo cáo tài chính). Về mặt định lượng thì các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 được xếp hạng vào danh mục nợ xấu ngân hàng. Về cách xếp loại các nhóm nợ cho thấy Việt Nam có sự thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc và có sự tương đồng thông lệ quốc tế.
Tóm lại, nợ xấu được xem là khoản cho vay đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên và dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của người đi vay Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ (từ nhóm 1 đến nhóm 5), các đánh giá này cũng tương đồng với thông lệ quốc tế và nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Singapore, Hồng Kông, Nhật, Trung Quốc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hình 2: Tỷ lệ nợ xấu NHTMVN năm 2006 và 2016. (Đvt: tỉ lệ %) Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các NHTMVN năm 2006, 2016 Quy định mức lập dự phòng tại Việt Nam Dự phòng rủi ro là khoản tiền mà các ngân hàng trích trước để đề phòng cho những tổn thất, thiệt hại có thể xảy ra khi người vay không thể thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Theo quy định tại điều 12, 13 thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định Mức trích lập dự phòng cụ thể.đối với từng nhóm nợ như sau: a) Nhóm 1: 0%; b) Nhóm 2: 5%; c) Nhóm 3: 20%; d) Nhóm 4: 50%; đ) Nhóm 5: 100%.
Mức trích lập dự phòng chung Số tiền dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trích lập dự phòng NHTM Việt Nam 2007-2016 ( Đơn vị: tỷ đồng) Nguồn: Tổng hợ từ Báo cáo thường niên của các NHTMVN năm 2007, 2016 Dựa theo công bố báo cáo tài chính hợp nhất cuối năm 2016 đã được kiểm toán, các ngân hàng có mức trích lập dự phòng rủi ro năm 2016 tăng so với năm 2007. Khối ngân hàng thương mại lớn như: Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank có mức trích lập dự phòng rủi ro lớn nhất trong năm 2016 lên tới trên 37.507 tỷ đồng, chiếm hơn 64% tổng trích lập của toàn bộ ngành. Agribank giữ vị trí quán quân với 12.455 tỷ đồng trích lập năm 2016.
Theo sau là BIDV đạt mức hơn 10. Vietinbank tuy có mức trích thấp nhất trong top đầu, song lại có tốc độ tăng trích lập cao nhất so với năm 2016. Với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, do quy mô tín dụng thấp hơn các ngân hàng thương mại Nhà nước nên mức trích lập chỉ chiếm ở góc 1/3 còn lại. Trong đó, Sacombank có mức trích lập lớn nhất với trên 2.
Dự phòng cao là nguyên nhân khiến lợi nhuận trong kỳ của MB giảm bởi trước khi có vật cản này, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng vẫn tăng gần 100 tỷ đồng so với cùng kỳ. Việc trích lập dự phòng sẽ trực tiếp làm giảm lợi nhuận và gián tiếp làm giảm giá trị cổ phần của ngân hàng nên dễ dẫn đến việc các ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 lẩn tránh thực hiện nghiêm túc yêu cầu này. Vì vậy, vai trò giám sát chặt chẽ, quy định rõ ràng của Ngân hàng nhà nước vô cùng quan trọng. Điều này sẽ giúp giữ tỷ lệ nợ xấu thấp trong giới hạn cho phép nếu được thực hiện nghiêm chỉnh.Tất nhiên nếu hoạt động giám sát được thực thi tốt thì vấn đề xử lý nợ xấu đã không phải đặt ra.
Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu ngân hàng Trong thời gian qua, nợ xấu là một vấn đề được quan tâm lớn và nhất là sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 thì đó càng là vấn đề cấp bách đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt nam nói riêng. Các học giả, nhà nghiên cứu đã phân tích tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu cũng như đưa ra các đề nghị, chính sách nhằm giúp các nhà quản trị ngân hàng, nhà hoạch định chính sách có định hướng tốt. Trên thế giới, các bài nghiên cứu về nợ xấu thu hút nhiều học giả đã xuất hiện từ lâu, Việt Nam những năm gần đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu nhiều bài phân tích đáng được chú ý. Các khoản cho vay của ngân hàng là nguồn tài chính quan trọng bên ngoài cho các doanh nghiệp ở cả các nước đang phát triển và phát triển.
Vai trò của ngành ngân hàng trong việc kích thích các hoạt động kinh tế thậm chí nổi bật hơn ở các nước có nền kinh tế dựa vào hệ thống ngân hàng (Kaufmann và Valderrama, 2008). Tín dụng tăng nhanh có thể làm gia tăng quan ngại về chất lượng tài sản, đặc biệt khi những rủi ro trên bảng cân đối liên quan đến nợ xấu được tích lũy những năm qua chưa được giải quyết triệt để (Sebastian –Ngân hàng quốc tế, 2017).