Chương 1 giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu là quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam mà điển hình là Vietcombank. Ngoài ra, chương này cũng nói về sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu cũng như đối tượng nghiên cứu là thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietcombank. Cuối cùng là phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu và kết cấu bao gồm năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 chương cùng với ý nghĩa khoa học của đề tài giúp làm tài liệu tham khảo và hoàn thiện các giải pháp nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm rủi ro tín dụng “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng” (Trần Huy Hoàng, 2011). Theo NHNN Việt Nam rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Như vậy, rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng không trả nợ đúng hạn hoặc mất khả năng trả nợ trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng.
Phân loại rủi ro tín dụng Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro rín dụng được phân chia như sau: Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro tín dụng phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch, thẩm định và xét duyệt cho vay. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro phát sinh trong quá trình lựa chọn các phương án vay vốn để cho vay thông qua việc phân tích và đánh giá tín dụng của ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 + Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động cho vay như công tác giám sát khoản vay, việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và quy trình cho vay. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng, phát sinh trong quá trình quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm hai loại rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại bắt nguồn từ các đặc điểm riêng của từng khách hàng đi vay hoặc của từng lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung là rủi ro do ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, doanh nghiệp (DN) hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một địa phương. Các hình thức của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Không thu Không thu Không thu Không thu đủ được lãi được vốn đủ lãi vốn (Mất vốn) đúng hạn đúng hạn Lãi treo Nợ quá 1.Nợ không có phát sinh hạn phát băng khả năng thu hồi sinh 2.Xóa nợ Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp là không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn. Khi không thu được lãi đúng hạn thì ngân hàng đưa vào mục lãi treo phát sinh.
Còn khi không thu đủ lãi thì ngân hàng sẽ đưa vào mục lãi treo đóng băng, trừ khi ngân hàng miễn giảm lãi đó cho khách hàng vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Khoản mục nợ quá hạn phát sinh khi ngân hàng không thu được vốn đúng hạn. Tuy nhiên, khoản mục này thể hiện mức độ rủi ro chưa cao. Khi rủi ro tín dụng ở mức độ cao là khi phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi, trong trường hợp này thì khách hàng có thể được ngân hàng xóa nợ nếu hội đủ các điều kiện theo quy định về xóa nợ.
Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, nhưng chủ yếu là từ phía khách hàng vay, từ phía ngân hàng và những nguyên nhân khách quan. + Nguyên nhân từ phía khách hàng vay: do năng lực về tài chính kém, phương án kinh doanh không hiệu quả, dẫn đến việc sử dụng vốn vay không hiệu quả, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. Do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ. Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai mục đích, sản phẩm sản xuất ra chất lượng thấp không bán được… Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán những rủi ro có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn.
+ Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Do sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra.
Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết. Hơn nữa, sau LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề. Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức. Do vậy, nếu các cấp quản lý không có sự giám sát đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả.
+ Nhóm nguyên nhân khách quan: do thiên tai, lũ lụt, hạn hán, sự thay đổi của các chính sách kinh tế vĩ mô, những biến động của thị trường trong và ngoài nước… làm cho DN lâm vào tình trạng khó khăn ngoài ý muốn, dẫn đến suy giảm khả năng trả nợ, thậm chí mất khả năng trả nợ cho ngân hàng cho dù DN có thiện chí thanh toán cho ngân hàng. Hậu quả của rủi ro tín dụng - Đối với ngân hàng: + khi rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng không thu được nguồn thu từ việc cho vay và đồng thời phải chi ra để trả vốn và lãi cho vốn huy động, dẫn đến mất cân đối trong dòng tiền ra và dòng tiền vào của ngân hàng. + Lòng tin của người gửi tiền và uy tín ngân hàng bị giảm sút. Khi rủi ro tín dụng xảy ra tại một ngân hàng, tình hình đó sẽ được các phương tiện truyền thông nêu lên làm cho người dân mất lòng tin và như vậy khó lòng có thể huy động được nguồn vốn dồi dào.
+ Làm giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng. Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn, trong lúc không huy động được nguồn vốn dồi dào do mất uy tín, và khi người rút tiền thấy tình trạng như vậy của ngân hàng họ lại rút tiền nhiều hơn vì sợ rủi ro mất vốn, kết quả là ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán. - Đối với nền kinh tế: Khi rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm cho ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc chi trả cho các nguồn vốn huy động từ khách hàng, dẫn đến DN không có tiền trả lương cho công nhân, mua nguyên vật liệu, làm cho sản xuất bị trì trệ, nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cung hàng hóa giảm sút, giá hàng hòa tăng lên và thất nghiệp cũng gia tăng. Ngoài ra, khi rủi ro tín dụng xảy ra tại một ngân hàng có thể ảnh hưởng đến nhiều ngân hàng, thậm chí toàn bộ hệ thống, gây nên khủng hoảng tài chính trong nước làm ảnh hưởng đến kinh tế khu vực và thế giới.
Đánh giá rủi ro tín dụng Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng: Dư nợ quá hạn + Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ cho vay Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam thì tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTM không được vượt quá 5%. Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản nợ bị quá hạn từ 10 ngày trở lên tương ứng với nợ quá hạn từ nhóm 2 đến nhóm 5. + Tỷ lệ nợ xấu / Tổng dư nợ cho vay Theo quy định thì tỷ lệ nợ xấu phải nhỏ hơn hoặc bằng 3%.
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên mà không đòi được và không được tái cơ cấu ( Nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 ). Tổng dư nợ cho vay + Hệ số rủi ro tín dụng = x 100% Tổng tài sản có Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của dư nợ tín dụng trong tài sản có, tỷ trọng dư nợ tín dụng trong tổng tài sản có càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng tăng lên.