Chương 1: Tổng quan về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP Sài Gòn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro lãi suất Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Có bốn loại rủi ro cơ bản trong kinh doanh ngân hàng : Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tỷ giá hối đoái: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng.
Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc giảm thu nhập của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản: là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.1 Khái niệm về rủi ro lãi suất Theo Timothi W.Koch (Bank Management 1955- University of South Crolina), rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của lãi suất.Fitch (Dictionary of Banking Terms 1997- Barron’s Edutional Series Inc) thì rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro lãi suất, nhưng các khái niệm có cùng nội hàm: Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng. Theo Peter Rose (2011), khi lãi suất thay đổi ngân hàng phải đương đầu với ít nhất một trong hai loại rủi ro lãi suất : rủi ro về giá và rủi ro tái đầu tư.
Rủi ro về giá: Giá trị thị trường của tài sản Có, tài sản Nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, rủi ro sẽ phát sinh nếu lãi suất thị trường tăng lên dẫn đến mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng theo và giá trị hiện tại của tài sản Có hoặc tài sản Nợ giảm xuống. Giá trị thị trường của các trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định ngân hàng đang nắm giữ sẽ bị giảm giá khi lãi suất tăng. Rủi ro tái đầu tư: xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Có, tài sản Nợ hoặc khi các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Chẳng hạn, khi kỳ hạn của tài sản Có nhỏ hơn kỳ hạn tài sản Nợ, rủi ro xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng phải chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình vào nhưng tài sản Có mới với mức sinh lời thấp hơn.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất Thứ nhất, khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Nợ và tài sản Có. Nếu kỳ hạn của tài sản Có lớn hơn kỳ hạn của tài sản Nợ nghĩa là ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay và đầu tư dài hạn, rủi ro sẽ xảy ra nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi. Nếu kỳ hạn của tài sản Có nhỏ hơn kỳ hạn của tài sản Nợ nghĩa là khi ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay và đầu tư với kỳ hạn ngắn, rủi ro sẽ xảy ra nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống. Thứ hai, do các ngân hàng áp dụng lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Nếu ngân hàng huy động với lãi suất cố định để cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- vay, đầu tư với lãi suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí không đổi trong khi thu nhập từ lãi giảm, điều đó làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm. Ngược lại, ngân hàng huy động với lãi suất biến đổi để cho vay và đầu tư với lãi suất cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăng theo lãi suất thị trường trong khi thu nhập lãi không đổi, do đó lợi nhuận ngân hàng cũng giảm theo.
Thứ ba, do có sự không phù hợp về khối lượng giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Chẳng hạn ngân hàng huy động vốn 100 tỷ đồng với lãi suất 1%/tháng và kỳ hạn là 6 tháng thì chi phí lãi là 6 tỷ đồng. Ngân hàng cho vay 60 tỷ đồng với lãi suất 1.2%/tháng với kỳ hạn 6 tháng thì thu nhập lãi là 4. Ngân hàng không sử dụng hết nguồn vốn để cho vay làm lợi nhuận giảm 1.
Thứ tư, do có sự không phù hợp về thời hạn giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Chẳng hạn ngân hàng huy động vốn 100 tỷ đồng với lãi suất 1%/tháng và kỳ hạn là 6 tháng thì chi phí lãi là 6 tỷ đồng. Ngân hàng cho vay 100 tỷ đồng với lãi suất 1.2%/tháng với kỳ hạn 3 tháng thì thu nhập lãi là 3. Do huy động vốn với thời gian dài nhưng cho vay với thời hạn ngắn làm lợi nhuận ngân hàng giảm 2.
Thứ năm, do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế nên vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay. Chẳng hạn khi dự kiến lãi suất cho vay là 8% trong đó lãi suất thực là 3% và dự kiến tỷ lệ lạm phát là 5%, nếu sau khi cho vay, tỷ lệ lạm phát thực là 7% thì lãi suất thực ngân hàng được hưởng chỉ còn là 1%.3 Các mô hình đo lƣờng rủi ro lãi suất 1.1 Mô hình định giá lại (the repricing model) Mô hình định giá lại đo lường sự thay đổi giá trị của tài sản và nợ khi lãi suất biến động dựa vào việc chia nhóm tài sản và nợ theo kỳ hạn định giá lại. Phân loại như trên nhằm đưa các tài sản Có và tài sản Nợ về cùng một nhóm có cùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- kỳ hạn từ đó đo lường sự thay đổi của thu nhập ròng từ lãi suất của các nhóm với sự thay đổi lãi suất của thị trường. Giá trị tài sản và nợ trong các nhóm dùng để tính chênh lệch là giá trị lịch sử, khe hở nhạy cảm lãi suất được dùng để đo lường sự nhạy cảm lãi suất.( Trần Huy Hoàng, Quản trị Ngân hàng 2010) Khe hở nhạy cảm lãi suất = Tài sản Có nhạy lãi – Tài sản Nợ nhạy lãi Trong đó: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất (có thể được định giá lại) bao gồm: các khoản cho vay có lãi suất biến đổi, các khoản cho vay ngắn hạn với thời gian dưới n tháng (trái phiếu chính phủ, công ty, xí nghiệp), các khoản cho vay có thời hạn còn lại dưới n tháng, tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng khác, các khoản đầu tư tài chính có thời gian còn lại dưới n tháng… Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất (có thể được định giá) bao gồm: tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch) và tiết kiệm không kỳ hạn của khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn thời hạn còn lại dưới n tháng (vay qua đêm, vay tái chiết khấu thời hạn dưới n tháng)… Đặc điểm của tài sản Có nhạy cảm với lãi suất và tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất là thời gian đến hạn càng ngắn thì tính nhạy lãi càng cao.
Mức thay đổi lợi nhuận của ngân hàng được tính bằng công thức: Mức thay đổi lợi nhuận = Khe hở nhạy cảm lãi suất x mức thay đổi lãi suất Các trường hợp các thể xảy ra khi xác định khe hở nhạy cảm lãi suất: Một là, khe hở nhạy cảm lãi suất bằng không: tài sản Có nhạy cảm với lãi suất bằng tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất. Rủi ro lãi suất không xuất hiện vì lãi suất tăng hay giảm không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Hai là, khe hở nhạy cảm lãi suất lớn hơn không: tài sản Có nhạy cảm với lãi suất (100) lớn hơn tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất (80), khe hở dương, rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm. Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- của ngân hàng giảm, ví dụ lãi suất thị trường giảm 0.5%; thu nhập lãi giảm 0.5 tỷ đồng (100 tỷ đồng x (-0.5%)); chi phí lãi giảm 0.5%)), khi đó mức giảm của lợi nhuận -0.
Ba là, khe hở nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn không: tài sản Có nhạy cảm với lãi suất (80) nhỏ hơn tài sản Nợ (100) nhạy cảm với lãi suất, khe hở âm, rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng. Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM) của ngân hàng giảm, ví dụ lãi suất thị trường tăng 0.5%; thu nhập lãi tăng 0.4 tỷ đồng (80 tỷ đồng x (0.5%)); chi phí lãi tăng 0. Mức giảm của lợi nhuận -0.