Chương 1: TỔNG QUAN QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Một số khái niệm về rủi ro. Trong môi trường sống chúng ta đầy rẫy những rủi ro.
Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lãnh vực. Rủi ro có thể xuất hiện một cách bất ngờ ở mọi lúc mọi nơi. Tùy theo cách tiếp cách tiếp cận, ta có những cách định nghĩa khác nhau về rủi ro. Nhìn chung có thể chia làm hai quan điểm: Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn xảy ra cho con người.
Theo quan điểm trung hòa: rủi ro là một sự không chắc chắn, một tình trạng bất ổn hay sự biến động tiềm ẩn ở kết quả. Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng đo lường rủi ro chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro.
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro - Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Rủi ro rất đa dạng và có thể được phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau tùy theo phạm vi và mức độ phức tạp trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tuy nhiên có thể tóm tắt được bốn loại rủi coi là những rủi ro cơ bản: Rủi ro tín dụng là rủi ro bị tổn thất tài sản khi bên vay là những khách hàng hay các ngân hàng không có khả năng thanh toán khoản vay theo đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không thể có đủ tiền để đáp ứng các khoản phải trả đến hạn thanh toán, bởi vì tài sản của ngân hàng không có khả năng thanh khoản hay không thể huy động đủ vốn. Rủi ro thị trường là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi các loại lãi suất, tỷ giá hay giá cả thị trường biến động theo chiều hướng xấu, ví dụ như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, giá cổ phiếu.
Rủi ro thị trường xảy ra khi có sự thay đổi của những điều kiện thị trường hay những biến động của thị trường. Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém hiệu quả ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được. - Có 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến rủi ro. Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: - Do không quản lý chặt chẽ thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả, cho vay tập trung nhiều vào một lĩnh vực, một ngành kinh tế hoặc trong đầu tư chỉ chú tâm đầu tư vào một loại chứng khoán có rủi ro cao.
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin, do hoạt động kinh doanh trái pháp luật hoặc do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp. Các nguyên nhân về phía khách hàng: - Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả dẫn đến mất vốn, mất khả năng chi trả ngân hàng. - Khách hàng vay thiếu năng lực pháp lý. - Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được.
- Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản, chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô lừa đảo… Các nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh: - Thiên tai, hỏa hoạn. - Tình hình an ninh chính trị trong nước không ổn định, môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ảnh hưởng rủi ro đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh tế - xã hội.
Rủi ro sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng. Những tổn thất thường gặp là mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị tài sản. Rủi ro có thể làm giảm uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng và có thể đánh mất thương hiệu của ngân hàng. Một ngân hàng kinh doanh liên tục bị thua lỗ, không đảm bảo khả năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng rút tiền hàng loạt của khách hàng và phá sản là con đường tất yếu.
Rủi ro khiến ngân hàng thua lỗ và bị phá sản sẽ ảnh hưởng đến hàng ngàn người gửi tiền vào ngân hàng, nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế sẽ khó có thể tiếp cận được nguồn vốn. làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả gia tăng, sức mua giảm, sản xuất bị đình đốn tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ làm rối loạn xã hội. Hệ thống ngân hàng gặp khó khăn có thể gây ra sự sụp đỗ hàng loạt các ngân hàng trong nước và khu vực. Công tác quản trị rủi ro.
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro bao gồm các bước: Nhận dạng rủi ro: Là quá trình xác định liên tục và có hệ thống đối với các hoạt động của ngân hàng thông qua việc phân tích khách hàng, môi trường kinh doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình nghiệp vụ. Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ các hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được các rủi ro, không chỉ loại trừ mà còn đề xuất biện pháp kiểm soát và tài trợ thích hợp. Phân tích rủi ro: Là xác định được những nguyên nhân rủi ro, trên cơ sở tìm ra những nguyên nhân nhà quản trị sẽ tìm biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro và tác động đến các nguyên nhân thay đổi chúng.
Đo lường rủi ro: Là việc thu thập số liệu và phân tích, đánh giá. Từ kết quả thu được, nhà quản trị lập ma trận đo lường rủi ro. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro: Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng. Các biện pháp kiểm soát gồm né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin… Tài trợ rủi ro: Khi rủi ro xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý.
Sau đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp. Các biện pháp này chia làm hai nhóm là tự khắc phục và chuyển giao rủi ro. Mục tiêu chính của quản trị rủi ro là nhằm đảm bảo cho những tài sản, vị thế kinh doanh và các hoạt động của ngân hàng không phải gánh chịu những tổn thất có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và sự tồn tại của ngân hàng. Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng.
Định nghĩa rủi ro lãi suất. Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian nhất định. Đây là loại giá cả đặc biệt, được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên giá trị. Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lại lợi nhuận cho người đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độ thỏa mãn một nhu cầu nào đó của người đi vay.
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất có thể phát sinh từ các nguyên nhân sau: 1. Khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ. Trường hợp kỳ hạn của tài sản Có lớn hơn kỳ hạn của tài sản Nợ (ngân hàng huy động vốn ngắn hạn cho vay, đầu tư dài hạn), rủi ro xuất hiện nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ví dụ: Ngân hàng huy động vốn 1000, thời hạn 12 ==> Chi phí trả lãi (12 tháng) = 1000 x 1% x 12 = 120 tháng, lãi suất 1%/tháng Ngân hàng cho vay 1000, thời hạn 24 ==> Thu nhập lãi (24 tháng) = 1000 x 1,5% x 6 = 360 tháng, lãi suất 1,5%/tháng => Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất nếu 12 tháng sau lãi suất huy động vốn tăng lên. Lợi nhuận ngân hàng bị sụt giảm do thu nhập lãi không đổi, trong khi chi phí lãi tăng lên Trường hợp kỳ hạn của tài sản Có nhỏ hơn kỳ hạn của tài sản Nợ (ngân hàng huy động vốn với kỳ hạn dài để cho vay và đầu tư với kỳ hạn ngắn), rủi ro sẽ xuất hiện khi lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống. Ví dụ: Ngân hàng huy động vốn 1000, thời hạn 24 ==> Chi phí trả lãi (24 tháng) = 1000 x 1% x 24 = 240 tháng, lãi suất 1%/tháng Ngân hàng cho vay 1000, thời hạn 12 ==> Thu nhập lãi (12 tháng) = 1000 x 1,5% x 12 = 180 tháng, lãi suất 1,5%/tháng => Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất, nếu 12 tháng sau lãi suất cho vay giảm xuống. Lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm do lãi suất huy động không đổi, trong khi lãi suất cho vay bị giảm 1.