CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về nợ xấu 1. Khái niệm Theo ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu Nợ xấu trong các NHTM bao gồm: * Những khoản nợ không thể thu hồi được: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. - Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. * Nợ có thể thu nhưng không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng. Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả nợ, hoặc khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ như: - Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 - Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thỏa thuận. - Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ. - Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ.
Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Khái niệm này vừa mang tính định tính vừa mang tính định lượng và được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Theo định nghĩa tại Việt Nam Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 21/01/2013 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thì Nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu theo định nghĩa tại Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày (yếu tố định lượng ) và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại nợ xấu Theo các nước trên thế giới Theo định nghĩa của IAS, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố chính: (i) Quá hạn trên 90 ngày, (ii) Khả năng trả được nợ của khách hàng. Về cơ bản, đa số các nước cũng xác định nợ xấu dựa trên 2 yếu tố này. Tuy nhiên, tiêu chí phân loại nợ là không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia trên thế giới. Theo cuộc khảo sát thực tiễn tại các nước đại diện trong nhóm liên kết các nguyên tắc cơ bản Basel thì ở một số quốc gia có thêm các tiêu chuẩn khác như: - Tại Mexico, các ngân hàng còn dựa trên giá trị có thể thu hồi của tài sản thế chấp.
- Hệ thống phân loại của Mỹ dựa trên một số tiêu chí như: kinh nghiệm thanh toán, môi trường khách nợ hoạt động. - Tại một số quốc gia như Anh và Hà Lan không có yêu cầu cụ thể cho việc phân loại nợ vì thế các ngân hàng tự xây dựng quy tắc cho mình. Tại Việt Nam Kế thừa các Quy định của Quyết định 493 và Quyết định 18, Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 21/01/2013, quy định việc phân loại nợ theo 2 phương pháp định lượng và định tính, theo đó Nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Căn cứ theo thời hạn nợ quá hạn (phương pháp định lượng) a.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. - Nợ gia hạn nợ lần đầu. - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. - Nợ đang thu hồi theo kết luận của thanh tra.
- Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: ( Trường hợp đặc biệt) + Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật. + Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp. + Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật. + Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật.
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 + Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. + Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. - Khoản nợ thuộc trường hợp đặc biệt quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. - Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Nợ quá hạn trên 360 ngày. - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. - Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
- Khoản nợ thuộc trường hợp đặc biệt quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được. - Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản. - Căn cứ theo khả năng trả nợ của khách hàng (phương pháp định tính) a.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Tác động của nợ xấu 1. Đối với Ngân hàng Nợ xấu ảnh hưởng hầu hết tới các hoạt động của NHTM, làm giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng thậm chí nó còn ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng. Trước hết, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các NHTM. Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của Ngân hàng, lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của Ngân hàng mà những khoản thu này chủ yếu thu từ lãi cho vay.
Nợ xấu hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinh doanh của NHTM. Khi nợ xấu tăng cao, thu nhập của ngân hàng giảm, thậm chí không còn lợi nhuận do không thu hồi được nợ, lại phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu và các chi phí khác liên quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thứ hai, nợ xấu sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng. Nếu tỷ lệ nợ xấu cao, nó sẽ tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng kể cả là khách hàng cá thể, doanh nghiệp hay các Ngân hàng đối tác; thậm chí uy tín của Ngân hàng trên thế giới sẽ bị giảm sút nghiêm trọng.