PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Đối với các ngân hàng thương mại thì việc huy động vốn đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Các ngân hàng thương mại muốn tồn tại thì phải huy động vốn và phải đẩy mạnh việc huy động vốn, bởi nó yếu tố nguồn, là yếu tố xuất phát để đẩy mạnh hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác của ngân hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu vốn để sản xuất kinh doanh dẫn tới việc NHNN hạ mức lãi suất trần huy động của các NHTM xuống dưới 11%/ năm. Ngoài ra hiện nay mặc dù thị trường bất động sản đóng băng, giá vàng giảm xuống và ổn định hơn trước, nhưng người dân vẫn không mấy mặn mà gửi tiền vào ngân hàng với nguyên nhân là yếu tố lạm phát.
Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của các NHTM. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là ngân hàng mới cổ phần và có thương hiệu và uy tín trên thị trường, nhưng nền kinh tế trong nước đang trong tình trạng suy thoái khả năng huy động vốn ngày càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó sự cạnh tranh trong việc huy động vốn của BIDV với các ngân hàng thương mại khác ngày càng gay gắt, đặc biệt là cạnh tranh với một số ngân hàng lớn mạnh như Vietconbank, Viettinbank…. Vậy BIDV cần có những giải pháp để phát huy thế mạnh, khắc phục những nhược điểm, tạo chỗ dựa tin cậy vững chắc cho khách hàng khi gửi tài sản của mình tại BIDV.
Từ thực trạng nêu trên, với mong muốn phân tích và đánh giá thực trạng, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển huy động vốn tại Sở giao dịch 2 của ngân hàng BIDV trong những năm tới , tôi chọn đề tài: “ Phát triển huy động vốn tại Sở giao dịch 2- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1) Mục đích nghiên cứu của đề tài Từ những nghiên cứu trên lý thuyết và phân tích thực trạng huy động đề ra các giải pháp nhằm phát triển, đẩy mạnh hoạt động huy động vốn tại Sở giao dịch 2 - BIDV. 2) Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Thông qua số liệu, phân tích thực trạng về hình thức huy động, quy mô huy động, cơ cấu huy động để tìm ra những ưu điểm, những mặt thuận lợi, khó khăn, những hạn chế còn tồn tại của Sở giao dịch 2- BIDV trong hoạt động huy động vốn, từ đó đề ra các giải pháp để phát huy những thành quả đã đạt được, khắc phục những khó khăn hạn chế còn tồn tại. 3) Phương pháp nghiên cứu Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp….
Số liệu được sử dụng trong luận văn được tìm kiếm, thu thập từ 2 nguồn: - Dữ liệu trong nội bộ của Sở giao dịch 2- Ngân hàng BIDV như: Báo cáo thường niên, báo cáo kết quả kinh doanh - Dữ liệu được thu thập qua các phương tiện truyền thông: Internet, tivi, báo chí… 4) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn: Phân tích thực trạng huy động vốn tại Sở giao dịch 2 - BIDV trong giai đoạn 4 năm (2008-2011) để nhìn nhận những nhược điểm, những mặt hạn chế, những khó khăn còn tồn tại trong công tác huy động vốn tại ngân hàng. Đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những nhược điểm, những mặt hạn chế, những khó khăn còn tồn tại và phát triển huy động vốn tại Sở giao dịch 2- BIDV. 5) Bố cục của luận văn Bài luận văn gồm 3 chương với bố cục như sau: Chƣơng 1: Lý luận về huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Sở giao dịch 2 – BIDV.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Giải pháp phát triển huy động vốn của Sở giao dịch2 – BIDV. CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về NHTM Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó đó là nền kinh tế thị trường, thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan''. Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước"; trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán khác. Theo luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hiện nay NHTM có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của ngân hàng thương mại trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội, ở 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế. Luật ngân hàng của nhiều nước trên thế giới đều cho rằng: Ngân hàng thương mại là những tổ chức tài chính trung gian với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác, và sử dụng nguồn lực đó trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Hoạt động huy động vốn của NHTM 1.
Khái niệm Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. [4] Theo luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 15/09/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM nhằm cụ thể hóa việc thi hành Luật các Tổ chức tín dụng, NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp nhận. Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các TCTD nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực huy động vốn là khả năng huy động vốn của NHTM.
Nâng cao năng lực huy động vốn là việc thực hiện các giải pháp nhằm thu hút lượng tiền nhàn rỗi từ dân cư. Vai trò của nghiệp vụ huy động vốn Đối với hoạt động của một ngân hàng thương mại, việc huy động vốn có vai trò vô cùng quan trọng bởi sự cần thiết phải tồn tại khách quan của nó. Các ngân hàng thương mại muốn tồn tại thì phải huy động vốn và phải đẩy mạnh việc huy động vốn, bởi nó yếu tố nguồn, là yếu tố xuất phát để đẩy mạnh hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác của ngân hàng. Nếu không có nguồn vốn huy động mà chỉ có nguồn vốn tự có thì một ngân hàng thương mại không thể tồn tại, mặt khác nó còn là xương sống để đánh giá uy tín, thương hiệu của các ngân hàng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt về huy động vốn như hiện nay.
Do nhận thức được vai trò quan trọng nên hiện nay các NHTM có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có thể nói, nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng. Ý nghĩa phát triển huy động vốn của NHTM 1. Đối với ngân hàng thƣơng mại Huy động vốn được coi là một hoạt động cơ bản có tính chất sống còn đối với bất kỳ một ngân hàng thương mại nào vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại.
Huy động vốn không chỉ đảm bảo hoạt động kinh doanh của chính ngân hàng thương mại mà nó còn đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế. Đây cũng có thể nói là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của các ngân hàng. Đối với ngân hàng vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.