Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về các yếu tố tác động lên hệ số an toàn vốn tại Ngân hàng thương mại Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 3: Thực trạng hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 4: Mô hình, phương pháp và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách quản lý các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Hệ số an toàn vốn của Ngân hàng 2. Khái niệm hệ số an toàn vốn 2. Quy đinh hệ số an toàn vốn theo hiệp ước Basel Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành Hiệp ước vốn Basel năm 1988 và có hiệu lực từ năm 1992 công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi để củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế và thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%, nghĩa là ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng. Theo một nghiên cứu của Worldbank Theo một nghiên cứu của Worldbank về phân tích rủi ro hệ thống ngân hàng thì các ngân hàng vốn có tỷ lệ vốn/tài sản tương đối thấp là các ngân hàng thường đối mặt với rủi ro. Để khuyến khích quản lý thận trọng các rủi ro liên quan đến vốn của Ngân hàng, các cơ quan quản lý ở hầu hết các quốc gia bắt đầu đưa ra các yêu cầu về an toàn vốn nhất định. Vào cuối những năm 1980, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng đã dẫn đầu để phát triển một tiêu chuẩn an toàn vốn dựa trên rủi ro có thể dẫn đến hội tụ quốc tế các quy định giám sát chi phối sự an toàn vốn của các ngân hàng hoạt động quốc tế.
Ngân hàng thế giới cũng không đi chệch tiêu chuẩn này, quy định một hệ số an toàn vốn tối thiểu, nghĩa là quy định tỷ lệ vốn/tài sản tối thiểu để đảm bảo sự an toàn về vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo quan điểm của cơ quan tài chính và quản lý toàn cầu của Ấn Độ Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ bảo vệ các ngân hàng chống lại việc mất khả năng thanh toán và giúp ngân hàng thoát khỏi khó khăn. Nó được định nghĩa là tỷ lệ vốn ngân hàng liên quan đến nợ ngắn hạn và tài sản có rủi ro.
Tài sản có rủi ro rủi ro là đo lường số lượng tài sản của ngân hàng, điều chỉnh rủi ro. Mức độ đảm bảo vốn thích hợp đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để mở rộng kinh doanh, đồng thời giá trị thực của nó đủ để hấp thụ bất kỳ suy thoái kinh tế mà không bị mất khả năng thanh toán. Đây là tỷ lệ xác định khả năng đáp ứng các khoản nợ của các ngân hàng và các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động…Nó được quyết định bởi ngân hàng Trung ương và điều chỉnh bởi từng ngân hàng thương mại để ngăn ngừa việc sử dụng tỷ lệ đòn bẩy vượt quá ngưỡng an toàn dẫn đến rủi ro phá sản. => Từ những quan điểm trên, tác giả có thể rút ra khái niệm cơ bản ban đầu về hệ số an toàn vốn tại Ngân hàng thương mại là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại, một tiêu chí quan trọng để phản ánh năng lực của một ngân hàng về khả năng thanh toán.
Ý nghĩa về hệ số an toàn vốn Đối với ngân hàng thương mại: Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực tài chính của một ngân hàng, nó thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. Trong thực tế, khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn này, ngân hàng đã có được khả năng chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ khách hàng của ngân hàng mình. Đối với nhà đầu tư: Hệ số an toàn vốn được sử dụng như một chỉ số để nhà đầu tư nhận biết mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Hệ số này thường được sử dụng để báo hiệu cho người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và cũng nhằm mục đích tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống ngân hàng thương mại.
Với hệ số an toàn vốn, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nhà đầu tư có thể xác định được khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện thanh toán các khoản nợ có thời hạn và các rủi ro. Đối với ngân hàng Nhà nước: Hệ số an toàn vốn được Ngân hàng nhà nước sử dụng công cụ giám sát vốn khi quy định hệ số an toàn vốn tối thiểu theo từng thời kỳ để các ngân hàng thương mại chấp hành theo quy định, bảo đảm khả năng thanh toán và giảm trừ khả năng phá sản của ngân hàng thương mại. Đo lường hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại được đo lường như sau: Vốn tự có CAR = X 100% Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro Trong đó: Vốn tự có của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được thuộc về sở hữu của ngân hàng. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài để hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng.
Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do tính chất ổn định của nó, Ngân hàng có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, mua tài sản cố định, dùng để đầu tư hay góp vốn liên doanh… Vốn tự có là căn cứ quyết định khả năng thanh toán khi Ngân hàng gặp rủi ro, sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định năng lực và sự phát triển của ngân hàng thương mại. Thành phần vốn tự có bao gồm vốn tự có cơ bản, vốn tự có bổ sung. Vốn tự có cơ bản: Là vốn điều lệ, do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của Ngân hàng, theo quy định tối thiểu phải bằng vốn pháp định (là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và các quỹ như: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác. Vốn tự có có vai trò to lớn trong hoạt động của NHTM vì vốn tự có là yếu tố quyết định sức mạnh tài chính của một ngân hàng, nó thể hiện năng lực tài chính vốn có của chính bản thân NHTM. Vốn tự có không chỉ là cơ sở, tiền đề để phát triển các nguồn vốn khác. NHTM có nguồn vốn tự có càng lớn thì khả năng huy động các nguồn vốn khác sẽ dễ dàng hơn vì tạo uy tín đổi với các nhà đầu tư dựa vào năng lực tài chính của chính mình.
Vốn tự có sẽ là tấm đệm chống đỡ rủi ro trước những chủ nợ nếu có những bất ổn tác động đến vốn của ngân hàng. Vốn tự có cũng là thước đo năng lực cạnh tranh của ngân hàng. NHTM có nguồn vốn tự có càng nhiều, vốn mạnh thì khả năng cạnh tranh của ngân hàng càng lớn trước những ngân hàng nhỏ hơn. Trong công thức đo lường hệ số an toàn vốn, vốn tự có được xác định như sau: Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, vốn cấp 1 thể hiện năng lực vốn của Ngân hàng như là vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; dự trữ công bố (lợi nhuận giữ lại); lợi ích thiểu số tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; lợi thế kinh doanh.
Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: lợi nhuận giữ lại không công khai, giá trị tăng thêm của việc đánh giá lại tài sản thông qua dự phòng đánh giá lại tài sản, dự phòng chung và dự phòng tổn thất tín dụng, các công nợ cho phép chuyển đổi thành cổ phiếu và các khoản nợ thứ cấp hay còn gọi là công cụ vốn hỗn hợp, vay với thời hạn ưu đãi hay đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các Ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý đưa ra. Các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn 2. Các yếu tố thuộc Ngân hàng 2.
Chi phí hoạt động Chi phí hoạt động là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của NHTM. Theo tác giả Nuviyanti - Achmad Herlanto Anggono nghiên cứu về yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn trong 19 Ngân hàng thương mại ở Indonesia năm 2008- 2013 thì chi phí hoạt động của Ngân hàng thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và sự an toàn vốn. Khi chi phí hoạt động của Ngân hàng tăng cao nghĩa là cho thấy hiệu quả hoạt động không hiệu quả, lợi nhuận giảm dẫn đến tỷ lệ an toàn vốn cũng giảm. Vì thế chi phí hoạt động có mối tương quan âm với hệ số an toàn vốn.
Quy mô tài sản của Ngân hàng thương mại Quy mô tài sản của NHTM được thể hiện thông qua tổng tài sản hiện có của NHTM.