Chương 1 giới thiệu về bối cảnh và vấn đề nghiên cứu. Tiếp theo chương 2 tiến hành khảo sát lý thuyết về những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Chương 3 luận văn đi vào phân tích những nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các NHTM Quảng Bình. Cuối cùng, trong chương 4 luận văn đề xuất các giải pháp chính sách phù hợp để hạn chế rủi ro tín dụng trên cơ sở những phân tích trước đó.
4 Phương pháp kiểm định Mann-Whitney được sử dụng để kiểm định các giả thuyết về 2 mẫu độc lập không có phân phối chuẩn, vì thế luận văn sử dụng phương pháp này để thực hiện kiểm định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- KHẢO SÁT LÝ THUYẾT 2. Hoạt động tín dụng Theo khoản 14, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: "Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Luận văn tiến hành nghiên cứu rủi ro trong hoạt động cho vay, là hoạt động kinh doanh chính của các NHTM Việt Nam cũng như các NHTM tại tỉnh Quảng Bình.
Theo khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi". Rủi ro tín dụng Điều 2–QĐ 493/2005/QĐ-NHNN định nghĩa: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Tổng hợp các nghiên cứu trước đã cho thấy nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đến từ hai phía bao gồm môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính và từ nội tại của chính các NHTM. Rủi ro đến từ môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính đến từ tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi, hệ thống luật pháp liên quan đến TSĐB yếu kém và bất cân xứng thông tin trong cho vay.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi Hoạt động kinh doanh khó khăn khiến cho khách hàng khó khăn trong việc trả nợ5. Sự suy giảm điều kiện kinh tế địa phương như lạm phát, lãi suất, bất ổn ngoại tệ gây ra rủi ro tín dụng6. IMF (2010) đã chỉ ra rằng bất ổn kinh tế là một trong các các yếu tố quyết định đáng kể nhất của rủi ro tín dụng. Lãi suất tăng cao: Sinkey và Greenwalt (1991) tìm thấy mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lãi suất cho vay cao, cho vay quá nhiều.
Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụng cũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc khách hàng trả lãi và gốc cho ngân hàng là rất khó, và rủi ro tín dụng tăng lên. Hệ thống luật pháp liên quan đến TSĐB yếu kém Ở các nước đang phát triển, thủ tục pháp lý kéo dài cản trở hiệu quả của giải quyết tranh chấp. Trong khi một hệ thống pháp luật tốt sẽ cho phép các NH dễ dàng thực hiện quyền của mình đối với các tài sản đảm bảo (TSĐB), cho phép họ tham gia vào việc mở rộng tín dụng mà không bận tâm vào việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng7.
Bất cân xứng thông tin Bất cân xứng thông tin xảy ra khi mà bên đi vay luôn có nhiều thông tin hơn ngân hàng về tính hiệu quả của phương án, thiện chí trả nợ của mình, từ đó gây khó khăn cho ngân hàng trong việc lựa chọn đối tượng cho vay, giám sát trong khi dụng vốn và sau khi hoàn vốn. Hệ quả của bất cân xứng thông tin gây ra đó là sự lựa chọn bất lợi, tâm lý ỷ lại. Lựa chọn bất lợi xảy ra trước khi cho vay đó là khi nguồn cung vốn khan hiếm với mức lãi suất cho vay cao thì những dự án có suất sinh lợi cao đi kèm với rủi ro cao mới được cho vay. Tâm lý ỷ lại trong lĩnh vực ngân hàng xảy ra sau khi cấp tín dụng, những người đã nhận được tín dụng luôn có xu hướng muốn thực hiện các đầu tư rủi ro hơn những người cho vay mong đợi (Mishkin, 1991).
Tóm lại, do thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và người cho vay dẫn đến rủi ro tín dụng. 5 Sinkey và Greenwalt (1991). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Để hạn chế bất cân xứng thông tin, theo Robirt Libby (1979) ba nguồn quan trọng của thông tin liên quan đến tín dụng thích hợp là đặc biệt quan trọng đó là: Dữ liệu báo cáo tài chính (BCTC), đánh giá năng lực quản lý, sự phân loại tín dụng từ thông tin bên ngoài. Theo Robirt Libby (1979) sử dụng thông tin BCTC là quan trọng trong giai đoạn quyết định khoản cho vay thương mại.
Tuy nhiên, những khoản mục của BCTC thường bị sai lệch đó là doanh thu, tài sản, nợ phải trả, chi phí, lãi lỗ và công bố thiếu thông tin8. COSO (2010) cũng chỉ ra cách thức gian lận báo cáo tài chính, trong đó ghi nhận doanh thu không hợp lý chiếm tỷ lệ cao, sau đó đến việc khai khống tài sản, che giấu nợ phải trả và chi phí. Melnik (2009) cho rằng BCTC sai lệch báo hiệu sự suy giảm chất lượng thông tin tài chính và làm gia tăng rủi ro cho vay. Rủi ro đến từ nội tại ngân hàng Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ nội tại các NHTM được xác định từ áp lực cạnh tranh và tăng trưởng tín dụng; chú trọng tài sản đảm bảo khi xét vay; cho vay dựa trên quan hệ và năng lực quản lý yếu kém của các NHTM.
Áp lực cạnh tranh và tăng trưởng tín dụng Các cuộc khủng hoảng tài chính đã minh họa những hệ quả khôn lường của những người cho vay mạo hiểm. Các ngân hàng có được doanh thu hấp dẫn từ những người đi vay mạo hiểm. Những ngân hàng không phân biệt rủi ro sẽ đối xử với người đi vay an toàn và mạo hiểm gần giống như nhau, trừ khi rủi ro của họ quá khác biệt. Những rủi ro thấp vẫn phải chịu chi phí quá cao, làm nản lòng những người đi vay an toàn.
Những rủi ro cao lại chỉ trả giá thấp, nên các ngân hàng này thu hút những người đi vay mạo hiểm. Hai yếu tố này tạo nên sự lựa chọn tiêu cực. Các ngân hàng tập trung vào phát triển kinh doanh và lợi nhuận ngắn hạn mà bỏ qua rủi ro là sai lầm9. Theo nghiên cứu của Montgomery (2004), tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi có quan hệ đồng biến với rủi ro phá sản của các ngân hàng ở Nhật Bản và cả Indonesia.
Lý giải rằng khi ngân hàng gặp khó khăn thì ngân hàng thường tăng trưởng tín dụng để tìm kiếm lợi nhuận và có khuynh hướng cho vay những đối tượng có rủi ro cao hơn với lãi suất cho vay cao hơn10. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- phân tích tác động của tăng trưởng tín dụng và cho vay ở Mỹ. Cụ thể, Keeton đã cho thấy tăng trưởng tín dụng nhanh chóng, kết hợp với tiêu chuẩn tín dụng thấp đóng góp vào tổn thất cho vay ở một số bang ở Mỹ11. Cho vay dựa trên tài sản đảm bảo (TSĐB) Theo lập luận của Manove và Padilla (1999, 2001), càng tăng TSĐB thì nguy cơ rủi ro tín dụng cao hơn bởi vì nếu các ngân hàng được đảm bảo bởi TSĐB ở mức cao thì họ ít có động lực thực hiện kiểm tra đầy đủ các khách hàng và các khoản vay.
Jiménez, Saurina (2004) đã tiến hành phân tích trên dữ liệu 3 triệu khoản vay từ năm 1988 – 2000 của các ngân hàng Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy khoản vay có TSĐB có xác suất rủi ro cao hơn. Nghiên cứu này cũng chỉ ra khi một khoản vay được đảm bảo bằng TSĐB thì ngân hàng có ít động cơ để thực hiện sàng lọc và đánh giá tín dụng một cách đầy đủ khi phê duyệt khoản vay. Việc cho vay dựa trên TSĐB sẽ tạo nên nguy cơ rủi ro rất lớn khi xảy ra hiện tượng bong bóng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo sụt giảm (Gabriel et al.
Cho vay dựa trên quan hệ Cuộc khủng hoảng Đông Á (1997) đã để lại một bài học giá trị rằng sự phụ thuộc vào các mối quan hệ sân sau (behind-the-scenes relationships) dẫn đến những quyết định đầu tư kém 12. Chủ nghĩa tư bản theo kiểu quan hệ gia đình, bạn bè (crony capitalism) ở Đông Á góp phần làm biến dạng cơ chế phân bổ tín dụng (Nguyễn Xuân Thành, 2002). Theo Jiménez và Saurina (2002), một mối quan hệ gần gũi giữa ngân hàng - người đi vay có sự ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng. Ngân hàng sẵn sàng cho khách hàng nhiều rủi ro hơn nếu họ có mối quan hệ thân thiết với ngân hàng.
Năng lực quản lý của ngân hàng Yếu kém trong thẩm định các khoản vay Ở Việt Nam, các CBTD của các NHTM chiếm ưu thế được xem là không được trang bị tốt kỹ năng, đồng thời lĩnh vực NHTM trong nền kinh tế chuyển đổi vẫn đang trong giai đoạn 11 Keeton, William R. 12 Janet Yellen, Chair (1998). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -10- cơ bản của sự phát triển (Mandeep; Goyal; Kumar và đ. Sự thiếu kinh nghiệm và không theo kịp sự phát triển của công nghệ lẫn các công cụ tài chính phức tạp đã khiến các NHTM và các nhân viên ngân hàng chưa phát triển đầy đủ chuyên môn trong đánh giá tín dụng, mở rộng tín dụng, giám sát người vay và quản lý rủi ro 13.
Yếu kém trong giám sát và kỷ luật Mối quan hệ ủy quyền - thừa hành: phát sinh giữa hai bên, trong đó một bên được chỉ định làm người thừa hành, hành vi này thay mặt hoặc đại diện cho người ủy quyền trong một lĩnh vực cụ thể để ra quyết định (Ross, 1973). Không phải lúc nào người thừa hành cũng hành xử vì lợi ích cao nhất của người ủy quyền vì mỗi cá nhân luôn tối đa hóa lợi ích của mình.