Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Rủi ro trong ngân hàng Rủi ro có thể hiểu là những biến cố không mong đợi khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản, danh tiếng của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc ngân hàng phải bỏ thêm một khoản chi phí để hoàn thành một nghĩa vụ tài chính nhất định. Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng: - Rủi ro tín dụng là xác suất xảy ra ngân hàng bị tổn thất do khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng. - Rủi ro lãi suất đến từ sự khác biệt, chênh lệch về kỳ hạn và nguồn vốn.
Rủi ro lãi suất xảy ra khi lãi suất biến động theo hướng bất lợi gây ra tổn thất cho ngân hàng. - Rủi ro ngoại hối xảy ra khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái gây nên tổn thất cho ngân hàng. Trong thị trường ngoại hối các ngân hàng kiếm lợi nhuận bằng phí cho các giao dịch đại diện cho khách hàng. Nếu như các ngân hàng là các nhà tạo lập thị trường thì ngân hàng có thể kiếm lợi nhuận thông quan chênh lệch giá mua – bán ngoại tệ.
Có 4 loại rủi ro ngoại hối mà ngân hàng phải đối mặt là: + Rủi ro cho vay bằng ngoại tệ, + Rủi ro phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ ( nợ ), + Rủi ro đầu tư vào trái phiếu bằng ngoại tệ ( tài sản ), + Rủi ro mua bán ngoại tệ: Ngân hàng mua bán ngoại tệ để thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế hay để phòng ngừa rủi ro hoặc cũng có thể đầu cơ ( khi ngân hàng kỳ vọng ngoại tệ tăng trong tương lai ). - Rủi ro thanh khoản ngược lại với rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính của mình. - Rủi ro hoạt động là rủi ro xảy ra trong hoạt động của ngân hàng như gian lận nội bộ, quy trình quy định còn lỗ hổng,… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Rủi ro thị trường là sự không chắc chắn về những ảnh hưởng của những thay đổi trong các yếu tố có hệ thống toàn nền kinh tế ảnh hưởng đến thu nhập và giá cổ phiếu của các công ty khác nhau theo cách tương tự. Một số các yếu tố nguy cơ trên toàn thị trường bao gồm sự biến động lãi suất, thanh khoản, lạm phát.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào 2 loại rủi ro là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng theo basel rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không thể hoàn trả khoản vay hay khi người cho vay có thể mất nợ gốc hoặc lãi suất liên quan đến khoản vay. Một nghiên cứu của Kolapo T. Funso và cộng sự (2012), kết quả cho thấy rủi ro tín dụng ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, ngoài ra hệ số tỷ lệ cho vay LA có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng.
Trong nghiên cứu tác động của quản lý rủi ro tín dụng với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại của Idowu Abiola và Awoyemi Samuel Olausi (2014), tác giả xem lợi nhuận trên vốn chủ sỡ hữu (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA) được sử dụng như các chỉ số hiệu quả hoạt động của ngân hàng; các chỉ số nợ xấu (NPL) và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là các chỉ số quản lý rủi ro tín dụng. Kết quả cho thấy quản lý rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Tác giả cho thấy với quản lý rủi ro tín dụng kém, tỷ lệ nợ xấu cao nhưng lợi nhuận của ngân hàng cao. Đồng thời đối với các ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao hơn có thể cho vay nhiều hơn, giảm khoản lỗ khi xảy ra và lợi nhuận thu được tốt hơn.
Để quản lý rủi ro tín dụng, ủy ban Basel đã đưa ra 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu. Các nguyên tắc này tập trung vào vấn đề xây dựng môi trường tín dụng, thực hiện cấp tín dụng và duy trì quá trình theo dõi kiểm soát, đo lường tín dụng phù hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tại Việt Nam, thông tư 13/2018/TT-NHNN cũng quy định chặt chẽ về quản lý rủi ro tín dụng như các quy định về chiến lược quản lý, hạn mức rủi ro tín dụng, hệ thống xếp hạng nội bộ, theo dõi kiểm soát rủi ro tín dụng, thẩm định phê duyệt quyết định có rủi ro tín dụng,. Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng: Chỉ tiêu nợ quá hạn: Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = * 100% Tổng dư nợ Dư nợ quá hạn = Nợ nhóm 2 + nhóm 3 + nhóm 4 + nhóm 5.
Chỉ tiêu nợ xấu: (nợ nhóm 3+4+5) NPL = Tổng dư nợ Tại Việt Nam, theo quyết định số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, cơ sở phân loại các nhóm nợ gồm : a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn; - Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Điều này. b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; - Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này; - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều này. d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều này.
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; - Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều này. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng, tỷ lệ này càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp, ngân hàng có rủi ro tín dụng cao và ngược lại. Theo điều 13 khoản 1b, thông tư 19/2017/TT-NHNN sửa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đổi thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định tỷ lệ nợ xấu dưới 3% ( tuy nhiên đây chỉ là điều kiện để các NHTM có thể thực hiện một số nghiệp vụ khác ). Dư nợ cho vay khách hàng Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng tài sản Hệ số này cho biết tỷ lệ của tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng.
Hệ số này tỷ lệ thuận với lợi nhuận của ngân hàng, tức là hệ số rủi ro tín dụng lớn thì ngân hàng có lợi nhuận cao và đồng thời rủi ro cũng cao. Tại Việt Nam, hoạt động chính của các ngân hàng thương mại hiện nay là huy động và cho vay. Tỷ lệ xóa nợ Dư nợ các khoán vay đã xóa − Giá trị thu hồi được được Tỷ lệ xóa nợ ròng = Tổng dư nợ Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ 2. Rủi ro thanh khoản Thanh khoản là khả năng mua hoặc bán tài sản nhanh trên thị trường mà không ảnh hưởng đến giá của tài sản hay cũng có thể nói thanh khoản là khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt nhanh chóng mà không ảnh hưởng đến giá của tài sản.
Đối với tổ chức tài chính, thanh khoản là khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các hợp đồng tín dụng theo cam kết. Rủi ro thanh khoản xảy ra khi tổ chức tài chính không thể đáp ứng được các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Anthony Saunders và Marcia Millon Cornett ( 2014, trang 352) cho rẳng rủi ro thanh khoản phát sinh vì hai lý do: do nợ phải trả và do tài sản có. Rủi ro thanh khoản phát sinh từ nợ phải trả là do người gửi tiền yêu cầu rút tiền từ tài khoản tiền gửi của họ, khi đó ngân hàng có thể phải vay thêm tiền hoặc bán tài sản để đáp ứng việc rút tiền.