CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1.1 Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng 1.1 Khái niệm rủi ro lãi suất Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro của các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh. Thật khó có thể thâu tóm một định nghĩa về rủi ro chuẩn xác cho mọi môi trƣờng kinh doanh cũng nhƣ mọi giai đoạn phát triển của kinh tế xã hội. Chính vì vậy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về rủi ro, nhƣng cách tiếp cận phổ biến nhất khi xem rủi ro nhƣ là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính. Bierwag và George G.
Kaufman (1985)1: Rủi ro lãi suất khi tài sản nhạy lãi khác so với nợ nhạy lãi. Khi giá (thu nhập) tài sản nhạy lãi là lớn hơn (nhỏ hơn) so với giá (thu nhập) tiền gửi nhạy lãi, một sự tăng bất ngờ trong lãi suất sẽ làm giảm thu nhập ròng (net income) của định chế tài chính và ngƣợc lại. Theo Trần Huy Hoàng (2006)2: Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trƣờng hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng. Nhƣ vậy, rủi ro lãi suất là khả năng ngân hàng phải đối mặt với sự suy giảm lợi nhuận hoặc những tổn thất về tài sản do sự biến động của lãi suất.
Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi định giá lại TSC và TSN; hoặc ngân hàng phải chịu RRLS do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất trên thị trƣờng biến động.2 Phân loại rủi ro lãi suất Theo P. Rose (2001)3, khi lãi suất thay đổi ngân hàng phải đƣơng đầu với ít nhất một trong hai loại rủi ro lãi suất: “rủi ro về giá” và “rủi ro tái đầu tƣ”. Bierwag and George G. Kaufman (1985), “Duration Gap for Financial Institutions”, Financial Analysts Journal, Vol.
68-71 2 Trần Huy Hoàng (2006), Quản trị ngân hàng thƣơng mại, NXB Lao Động Xã hội 3 Peter S.Rose (2001), Quản trị ngân hàng thƣơng mại, NXB Tài chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Rủi ro về giá: giá trị thị trƣờng của tài sản có, tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, rủi ro sẽ phát sinh nếu lãi suất thị trƣờng tăng lên, dẫn đến mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng theo và giá trị hiện tại của tài sản có hoặc tài sản nợ giảm xuống. Ngƣợc lại, nếu lãi suất thị trƣờng giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ TSC có kỳ hạn dài hơn TSN thì khi lãi suất thị trƣờng tăng giá trị TSC sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của TSN.
Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc về rủi ro lãi suất dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng. Rủi ro tái đầu tƣ: rủi ro này xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có, tài sản nợ hoặc khi các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay. Cụ thể là: - Trƣờng hợp ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng đứng trƣớc rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ (đầu tƣ vào tài sản lãi suất cố định nhƣng huy động với lãi suất thả nổi). Giả sử lãi suất huy động là 9%/năm kỳ hạn 1 năm và lãi suất đầu tƣ là 10%/năm kỳ hạn 2 năm.
Nếu khoản đầu tƣ 100 triệu đồng kỳ hạn 2 năm đƣợc tài trợ bằng vốn huy động kỳ hạn 1 năm thì trong năm thứ 1 ngân hàng sẽ thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1%. Vì lãi suất huy động có thể thay đổi từ năm thứ 1 sang năm thứ 2 nên ngân hàng luôn đứng trƣớc rủi ro lãi suất. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn trong năm kế tiếp tăng lên trên mức lãi suất đầu tƣ, ví dụ sang năm thứ 2 lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm là 11% thì lợi nhuận thu đƣợc từ khoản đầu tƣ sẽ là một số âm = 100 x (10% - 11%) = -1 triệu đồng. - Trƣờng hợp ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tƣ có kỳ hạn ngắn thì ngân hàng đứng trƣớc rủi ro về lãi suất tái đầu tƣ tài sản có (đầu tƣ vào tài sản với lãi suất thả nổi nhƣng huy động với lãi suất cố định).
Giả sử ngân hàng huy động vốn với lãi suất 9%/năm kỳ hạn 2 năm và đầu tƣ vào tài sản có mức lãi suất 10%/năm kỳ hạn 1 năm. Nếu sang năm thứ 2 lãi suất đầu tƣ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 giảm xuống còn 8% thì ngân hàng sẽ chịu 1 khoản lỗ do lãi suất đầu tƣ thấp hơn lãi suất huy động 1%.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất Rủi ro do định giá lại: nguyên nhân đầu tiên đƣợc nói đến nhiều nhất của RRLS là do sự khác biệt về thời gian của ngày đáo hạn (đối với lãi suất cố định) và định giá lại (đối với lãi suất thả nổi) của các TSC, TSN và các tài sản ngoại bảng. Sự khác biệt về định giá lại là yếu tố cơ bản của hoạt động ngân hàng, nó có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời cũng là nguyên nhân khiến ngân hàng chịu tổn thất. Một ngân hàng cho vay dài hạn với lãi suất cố định với tài sản bên nguồn vốn là tiền gửi ngắn hạn thì có thể đối mặt với việc giảm lợi nhuận khi lãi suất tăng lên bởi dòng tiền của món cho vay là cố định trong suốt thời gian vay trong khi lãi suất phải trả cho món huy động tăng lên sau ngày đáo hạn của món tiền gửi ngắn hạn.
Rủi ro do thay đổi đƣờng cong lợi suất: Sự chênh lệch khi định giá lại cũng có thể xảy ra đối với ngân hàng khi đƣờng cong lợi suất thay đổi độ dốc cũng nhƣ hình dáng. Rủi ro đƣờng cong lợi suất xảy ra khi đƣờng cong lợi suất dịch chuyển gây tác động tiêu cực đến thu nhập hoặc giá trị tài sản của ngân hàng. Ví dụ nhƣ trạng thái trƣờng (long position) trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm có thể đƣợc tài trợ bằng một trạng thái đoản (short position) đối với trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm. Trong trƣờng hợp này, khi đƣờng cong lợi suất dốc xuống có thể gây thua lỗ, thậm chí khi đƣờng cong lợi suất di chuyển song song.
Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến RRLS nữa là rủi ro xảy ra khi cơ sở điều chỉnh lãi suất của bên tài sản và nguồn vốn không tƣơng thích với nhau mặc dù chúng có cùng đặc tính định giá lại. Khi lãi suất thay đổi, sự khác biệt này có thể gây ra những thay đổi không mong đợi đối với dòng tiền cũng nhƣ thu nhập từ chênh lệch lãi suất giữa tài sản, nguồn vốn và các tài sản ngoại bảng khác. Ví dụ, một khoản vay đƣợc định giá lại hàng tháng theo lãi suất tín phiếu kho bạc Mỹ có kỳ hạn 1 tháng, khoản vay này đƣợc tài trợ bởi một khoản tiền gửi đƣợc định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 giá lại hàng tháng theo lãi suất LIBOR 1 tháng. Khi đó, rủi ro xảy ra khi chênh lệch giữa 2 lãi suất cơ sở này thay đổi.
Rủi ro do các hợp đồng quyền chọn: Các hợp đồng quyền chọn - Options (là sản phẩm phái sinh) gắn với rất nhiều khoản mục TSN, TSC và các tài sản ngoại bảng cũng là một nguyên nhân dẫn đến RRLS cho ngân hàng. Một hợp đồng quyền chọn mang lại quyền nhƣng không phải nghĩa vụ đƣợc mua hay bán và do đó làm thay đổi dòng tiền của một công cụ hay một hợp đồng tài chính. Đó là các điều khoản quyền chọn mua hay bán các loại trái phiếu, kỳ phiếu, là các khoản cho vay cho phép ngƣời vay quyền trả trƣớc số dƣ và hàng loạt các công cụ huy động vốn khác cho phép ngƣời gửi tiền đƣợc quyền rút tiền bất kỳ lúc nào mà không phải chịu phạt. Khi đó thời gian tái định giá của các TSC và TSN thay đổi mà ngân hàng không biết trƣớc đƣợc, do vậy sẽ gây nên RRLS và rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.
Các loại quyền chọn này mang lại lợi ích cho ngƣời nắm giữ quyền và bất lợi cho ngƣời bán quyền, do đó nếu không đƣợc quản lý một cách cẩn trọng sẽ gây rủi ro cho ngân hàng.4 Nhận biết, đánh giá và đo lƣờng rủi ro lãi suất 1.1 Nhận biết, đánh giá rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất có thể nhận biết bằng nhiều cách, song cách cơ bản nhất là xem xét kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ và mức độ biến động của lãi suất trên thị trƣờng so với lãi suất mà ngân hàng kỳ vọng. Các phƣơng pháp nhận biết và đánh giá rủi ro lãi suất qua các hệ số: Hệ số chênh lệch lãi thuần (Net Interest Margin – NIM) Hệ số chênh lệch lãi thuần NIM đánh giá mức độ rủi ro lãi suất mà ngân hàng phải gánh chịu. Thu nhập lãi – Chi phí lãi Hệ số chênh lệch lãi = x 100% thuần NIM Tổng tài sản có sinh lời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tƣ, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tƣ chứng khoán. Chi phí lãi: chi phí huy động vốn, đi vay.
Tổng tài sản có sinh lời = Tổng tài sản có – Tiền mặt và tài sản cố định Hệ số chênh lệch lãi thuần giúp ngân hàng dự báo trƣớc khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp. Ý nghĩa của hệ số chênh lệch lãi thuần NIM: nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi thu từ cho vay và đầu tƣ hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tƣ giảm nhanh hơn chi phí huy động vốn sẽ làm NIM bị thu hẹp, rủi ro lãi suất lớn hơn.