Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng. Chương 2: Thực trạng về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG.
Rủi ro tín dụng ngân hàng. Khái niệm rủi ro tín dụng. Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về RRTD ngân hàng, cụ thể như: Theo “Financial Institution Management – A Modern Perpective”, A.Lange thì cho rằng “RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và về thời hạn”.Koch thì cho rằng “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo khoản 1 Điều 2, QĐ 493 NHNN Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD và các văn bản sửa đổi, bổ sung về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì khái niệm RRTD được định nghĩa như sau: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia như sau: 1. Rủi ro giao dịch (Transaction risk). Là hình thức của RRTD mà nguyên nhân là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm là rủi ro xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSĐB. Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục (Portfolio risk): Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân làm hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Ảnh hƣởng của rủi ro tín dụng. Đối với ngân hàng. Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi được vốn và lãi cho vay, nhưng ngân hàng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm mất cân đối thu chi, vòng quay vốn tín dụng bị chậm lại làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, có thể mất khả năng thanh khoản. Từ đó, ngân hàng bắt buộc phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, sức cạnh tranh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 giảm, giảm lòng tin của người gởi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế. Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động vốn nhàn rỗi để cho vay lại, nên khi có RRTD xảy ra hay bị phá sản thì người gởi tiền hoang mang lo sợ và ồ ạt kéo nhau đi rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Nếu ngân hàng không có biện pháp xử lý khắc phục kịp thời, dẫn đến việc bị thua lỗ, thậm chí phá sản sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền, lúc này, rủi ro không chỉ riêng đối với ngân hàng mà sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đến toàn bộ nền kinh tế. RRTD có thể châm ngòi cho một cơn khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến cả khu vực và thế giới.
Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những giải pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng.2 Quản trị rủi ro tín dụng [3].1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng: Quá trình quản trị RRTD là quá trình tiếp cận RRTD một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của RRTD. Quản trị RRTD bao gồm các bước: Nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và bù đắp rủi ro. Cụ thể hơn là quản trị RRTD là việc hạn chế khả năng phát sinh RRTD và thực hiện các biện phát nhằm hạn chế mức độ tổn thất khi RRTD xảy ra. Như vậy mục tiêu của quản trị RRTD là nhằm tối đa hóa các lợi ích cho ngân hàng và các cổ đông (mô hình cổ phần) và giảm thiểu những rủi ro, những tổn thất trong hoạt động tín dụng của các NHTM trong giới hạn có thể chấp nhận được đối với từng ngân hàng để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng. Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tổn thất mà chúng gây nên. Một hệ thống quản lý hiệu quả không đồng nghĩa với việc né tránh rủi ro mà phải làm sao kiểm soát và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất tương ứng với mức lợi nhuận kỳ vọng. Do vậy, một quy trình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả phải bao gồm những bước sau: 1.
Nhận dạng rủi ro. Muốn hạn chế rủi ro trước hết phải nhận dạng được rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có tính hệ thống đối với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông việc phân tích khách hàng, môi trường kinh doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình nghiệp vụ. Phân tích rủi ro.
Sau khi nhận dạng được rủi ro thì phải phân tích rủi ro, xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro. Đây là công việc phức tạp, bởi mỗi rủi ro không chỉ do một nguyên nhân duy nhất gây ra mà thường do nhiều nguyên nhân gây ra. Trên cơ sở tìm được các nguyên nhân, từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro và tác động đến các nguyên nhân thay đổi chúng. Đo lƣờng rủi ro.
Là việc thu thập số liệu và phân tích. Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng cả 02 tiêu chí: tần suất xuất hiện rủi ro và mức độ tổn thất. Quá trình đo lường có thể là đánh giá chất lượng hoặc đánh giá số lượng. Hiện nay trên thực tế có 03 phương pháp định lượng cơ bản: Phương pháp thống kê, Phương pháp kinh nghiệm, Phương pháp tính toán – phân tích.
Kiểm soát – Phòng ngừa rủi ro. Công việc trọng tâm của công tác quản trị RRTD là kiểm soát rủi ro. Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược để ngăn ngừa, né LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất cho ngân hàng. Các biện pháp kiểm soát rủi ro như: các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin,… 1.
Bù đắp rủi ro. Khi rủi ro đã xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý. Sau đó cần có những biện pháp bù đắp rủi ro thích hợp. Các biện pháp này được chia làm 02 nhóm: tự khắc phục rủi ro và chuyển giao rủi ro.
Đo lƣờng rủi ro tín dụng và đánh giá rủi ro tín dụng. Trong quy trình quản trị RRTD thì đo lường rủi ro là một bước quan trọng, nhất là trong quan điểm quản trị rủi ro hiện đại. Không chỉ dừng lại ở mức độ là nhận dạng ra rủi ro mà nhà quản trị phải đo lường được mức rủi ro mà ngân hàng gặp phải. RRTD bao hàm 02 đặc trưng là: (1) luôn gắn liền với thất thoát của ngân hàng về mặt tài chính; (2) xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của khách hàng.
Chính vì thế, mục tiêu của đo lường RRTD là giúp ngân hàng lượng hóa được rủi ro mà mình gặp phải trong một khoảng thời gian nhất định. Qua đó có những biện pháp chống đỡ rủi ro thích hợp như thiết lập dự trữ để bù đắp tổn thất,… Hiện nay trên thực tế đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đo lường rủi ro. Không có phương pháp đo lường nào là tốt nhất với mọi ngân hàng, mỗi ngân hàng cần xây dựng một phương pháp phù hợp. Có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá RRTD.
Các mô hình này rất đa dạng bao gồm cả định lượng và định tính. Một số mô hình phổ biến sau: 1. Mô hình định tính - Mô hình 6C. Trọng tâm của mô hình này là xem xét độ tin cậy của người đi vay, liệu người đi vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không.