Chương 1. Giới thiệu Những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về stress test. Tầm quan trọng của stress test đã được nhấn mạnh trong cuộc khủng hoảng gần đây và những vụ sụp đổ ngân hàng ở nhiều quốc gia. Hiểu biết sâu sắc về khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng trước các kịch bản kinh tế vĩ mô bất lợi là rất quan trọng cho việc đánh giá đúng rủi ro hệ thống và giúp các nhà điều hành đưa ra chính sách quản lý kịp thời bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia.
Bài nghiên cứu này thực hiện stress test để xem xét tác động vĩ mô lên rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên phân tích kịch bản. Khuôn khổ thực hiện bao gồm ba phần độc lập nhưng bổ sung cho nhau được kết hợp theo thứ tự. Phần đầu tiên sử dụng mô hình kinh tế lượng theo chuỗi thời gian để ước lượng mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô lựa chọn và sử dụng kết quả này để mô phỏng các kịch bản vĩ mô bất lợi trong hai năm tới. Phần thứ hai sử dụng mô hình kinh tế lượng theo dữ liệu bảng để ước tính độ nhạy của tỷ lệ nợ xấu (NPL) đối với tăng trưởng GDP và sử dụng kết quả này để mô phỏng chất lượng tín dụng dưới các kịch bản xấu.
Phần này sử dụng bộ dữ liệu về tỷ lệ nợ xấu của tám ngân hàng thương mại được niêm yết trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2013. Phần thứ ba sử dụng tỷ lệ nợ xấu dự báo đại diện cho xác suất vỡ nợ (PD) trong trường hợp bất lợi để ước tính phần tổn thất tín dụng, sử dụng mô hình giá trị tín dụng có rủi ro (Credit VaR). Kết quả cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa tỷ lệ nợ xấu và tăng trưởng GDP. Trong đó, tăng trưởng GDP tác động lên tỷ lệ nợ xấu với độ trễ là hai quý.
Kết quả thực hiện ở kịch bản cơ sở khi nền kinh tế không có cú sốc đã cho thấy nếu tăng trưởng GDP giảm 2,9 phần trăm sẽ làm gia tăng 1,3 lần nợ xấu trong quý III năm 2013. Như vậy, ở kịch bản cơ sở tỷ lệ nợ xấu có thể vào 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoảng 3,7 phần trăm trong quý III năm 2013. Ngoài ra, chất lượng tín dụng thể hiện mức độ quán tính mạnh mẽ với hệ số tự hồi quy là 0,84. Điều này ngụ ý rằng một phần trăm gia tăng trong tỷ lệ nợ xấu của một quý nào đó sẽ gây ra sự gia tăng 0,84 phần trăm trong tỷ lệ nợ xấu ở quý tiếp theo.
Bài nghiên cứu này xây dựng bốn kịch bản kinh tế vĩ mô, mỗi kịch bản kéo dài hai năm. Những kịch bản này bao gồm một kịch bản cơ sở phản ánh mức độ tăng trưởng GDP dự kiến khi nền kinh tế không xảy ra các cú sốc và ba kịch bản xấu được coi là cực đoan, nhưng vẫn có khả năng xảy ra trong điều kiện hiện nay. Nhìn chung, kết quả của kịch bản cơ sở chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu sẽ đạt đỉnh vào khoảng hơn 5 phần trăm trong quý thứ ba năm 2015. Ngược lại, một kịch bản xấu sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu vào khoảng 6,4 phần trăm vào quý 2 năm 2014 của dự báo.
Nhìn chung, thực hiện stress test đã cho thấy các ngân hàng thương mại Việt Nam có nguồn lực tài chính chưa đủ tốt để hấp thụ các tổn thất tín dụng dưới tập hợp các kịch bản kinh tế vĩ mô bất lợi. Đây có thể là mầm mống đe dọa đến sự ổn định tài chính cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Cấu trúc của bài nghiên cứu như sau: Phần 2 trình bày ngắn gọn một số nghiên cứu liên quan, phần 3 thảo luận về phương pháp luận. Phần 4 mô tả dữ liệu thu thập và phần 5 là các kết quả thực nghiệm.
Cuối cùng, phần 6 là kết luận bài nghiên cứu. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2. Các nghiên cứu trước đây Wilson (1997) và Merton (1974) được biết đến với các bài nghiên cứu về stress test đo lường rủi ro tín dụng dưới tác động kinh tế vĩ mô. Wilson thiết lập mô hình trực tiếp dựa trên tính nhạy cảm của nhiều biến kinh tế vĩ mô đối với xác suất vỡ nợ theo từng khu vực ngành nghề.
Mô hình này hồi quy mối liên hệ giữa xác suất vỡ nợ và các nhân tố vĩ mô, sau đó mô phỏng phân phối xác suất vỡ nợ trong tương lai với mức thua lỗ kì vọng dưới ảnh hưởng của biến động kinh tế vĩ mô. Mô hình Merton thì khác biệt ở chỗ kết hợp sự thay đổi giá tài sản vào trong tiến trình xác định xác suất vỡ nợ. Mô hình của Wilson thì mang tính trực giác và ít tính toán trong khi mô hình của Merton cần nhiều dữ liệu và yêu cầu tính toán phức tạp. Kể từ đó thì nhiều bài nghiên cứu đã ứng dụng công cụ này để đánh giá mức độ hồi phục của hệ thống ngân hàng ở những quốc gia khác nhau trước biến động vĩ mô bất lợi như là Berkowitz (1999), Pesola (2001), Froyland và Larsen (tháng 10, 2002), Boss và cộng sự (2002), Hoggarth và Whitley (2003), Gerlach và cộng sự (2003), Virolainen và Sorge (2006), Barnhill và cộng sự (2006), van den End và cộng sự (2006), Missina và Tessier (2007).
Mục tiêu chính của những bài nghiên cứu này là đo lường mức độ nhạy cảm của danh mục tín dụng trước kịch bản vĩ mô bất lợi hoặc những sự kiện, biến động ngoan mục. Những thử nghiệm như vậy làm cho rủi ro được minh bạch hơn, giúp đánh giá mức lỗ tiềm năng dưới điều kiện thị trường không bình thường. Trong đó, Boss (2002) sử dụng mô hình rủi ro tín dụng vĩ mô để phân tích tình hình biến động xấu của thị trường gây áp lực lên xác suất vỡ nợ của ngân hàng Áo và tác giả đã nhận thấy sức sản xuất công nghiệp, tỷ lệ lạm phát, chỉ số chứng khoán, lãi suất ngắn hạn danh nghĩa và giá dầu là các nhân tố quyết định xác suất vỡ nợ. Sorge & Virolainen (2006) ứng dụng hai phương pháp chính trong stress 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com test cho nền kinh tế Phần Lan là kết hợp phân tích kinh tế lượng theo dữ liệu bảng cân đối kế toán (mô hình bảng cân đối kế toán) và mô hình giá trị có rủi ro VaR.
Trong mô hình bảng cân đối kế toán, Sorge và Virolainen sử dụng khuôn khổ của Wilson. Theo đó, các biến vĩ mô được liên kết với các khoản mục cho vay trên bảng cân đối kế toán và thông qua phương pháp mô phỏng Monte Carlo để mô phỏng ảnh hưởng của một vài cú sốc đến hệ thống ngân hàng, từ đó xác định giá trị có rủi ro VaR. Mô hình VaR kết hợp phân tích nhân tố rủi ro để ước lượng xác suất mất mát, đưa ra con số cụ thể về mức độ nhạy cảm của danh mục trước nhiều loại rủi ro khác nhau. Thông qua đó, các tác giả còn tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ vỡ nợ đặc trưng theo ngành và GDP, lãi suất và tổng nợ của khu vực doanh nghiệp.
Từ đó cho thấy biến động của môi trường kinh tế có ảnh hưởng lên dự phòng nợ khó đòi của ngân hàng. Một số nhà nghiên cứu đã kết hợp nợ xấu, khoản dự phòng nợ khó đòi và các nhân tố kinh tế vĩ mô vào trong ma trận vector để đo lường tính bất ổn của hệ thống tài chính. Kalirai và Scheicher (2002) xây dựng mô hình ước lượng hồi quy theo dữ liệu chuỗi thời gian giữa biến dự phòng nợ khó đòi tích lũy và một tập hợp lớn các biến kinh tế vĩ mô bao gồm GDP, lỗ hổng sản lượng ngành công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng cung tiền, chỉ số thị trường chứng khoán, tỷ giá hối đoái, xuất khẩu và giá dầu. Bên cạnh đó, stress test cũng được xem là một trong những công cụ đánh giá tính ổn định tài chính và được giới thiệu ở chương trình FSAP 1999 liên kết giữa IMF với WB (IMF&WB 2003).
Sau khi giới thiệu FSAP, những nhà điều hành và giám sát tiền tệ quốc gia đã bắt đầu kết hợp công cụ này vào trong các đánh giá ổn định tài chính định kì. Nhiều nghiên cứu đã làm sáng tỏ tính hữu ích của stress test trong phân tích vĩ mô. Ví dụ, Borio, Furfine & Lowe (2001) chỉ ra tầm quan trọng của stress test trong việc nâng cao hiểu biết về rủi ro và mối quan hệ với 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chu kì kinh doanh. Gần đây EU và Mỹ đã thực hiện cuộc thử nghiệm stress test lớn nhất sau khủng hoảng để đánh giá hệ thống tài chính của họ (Fed 2009a,b và CEBS 2010a,b).
Drehmann (2008) đã thảo luận về các mục tiêu, tiến trình lập mô hình và những thách thức trong thực hiện stress test. Cihak (2007) cũng trình bày tỉ mỉ và toàn diện khung lý thuyết liên quan đến việc thiết kế stress test dưới những kịch bản vĩ mô với giả định phạm vi rủi ro rộng lớn. Ông đã mô tả những ứng dụng của stress test trên dữ liệu ngân hàng. Bài nghiên cứu này thảo luận điểm mạnh và điểm yếu của nhiều phương pháp thực hiện stress test và tính hữu ích của nó đối với các nhà điều hành tiền tệ quốc gia.
Sorge (2004) cũng cung cấp tổng quát các phương pháp stress test cho hệ thống tài chính và thảo luận về những thách thức trong phương pháp nghiên cứu như là đo lường rủi ro nội sinh hoặc sự tương quan giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường. Berkowitz (2000) thảo luận cụ thể việc lựa chọn kịch bản khi thực hiện stress test. Hầu hết các bài nghiên cứu xem xét rủi ro tín dụng khi thực hiện stress test. Trước khi thực hiện mô phỏng ảnh hưởng của các kịch bản tác động lên bản chất rủi ro tín dụng, các tác giả thường khảo sát mối liên kết giữa các biến vĩ mô (như là tăng trưởng GDP, lãi suất, thất nghiệp, sức sản xuất công nghiệp, lạm phát, v.v) và các biến đo lường rủi ro tín dụng liên quan thông qua mô hình vệ tinh.
Có nhiều phương pháp cho việc thiết lập những mô hình như vậy, thường được gọi là mô hình rủi ro tín dụng vĩ mô. Drehmann (2005) và Cihak (2007) đã làm sáng tỏ mối quan hệ phi tuyến giữa các biến động vĩ mô và rủi ro tín dụng trong mô hình rủi ro tín dụng vĩ mô.