CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Theo các nhà kinh tế học xác định thì cạnh tranh là sự ganh đua, tranh đấu giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng trên thị trường nhằm tranh giành những lợi ích kinh tế sao cho mình có lợi nhất. Cạnh tranh là vấn đề tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Quá trình cạnh tranh để đi đến cái đích cuối cùng là tồn tại và phát triển ít nhất ngang bằng với đối thủ của mình. Như vậy, cạnh tranh chính là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế với nhau thông qua các hành động, sự phấn đấu và khả năng áp dụng những biện pháp để giành được lợi thế trên thương trường, sao cho có thể có được ưu thế về thị phần, lợi nhuận, danh tiếng.
so với đối thủ. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm tổng quát về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế, theo đó các chủ thể kinh tế huy động tổng lực (nội lực và ngoại lực) của mình trên cơ sở sử dụng các phương thức cạnh tranh nhằm giành được ưu thế trên thương trường và đạt được mục tiêu kinh tế cuối cùng là lợi nhuận trong sự phát triển bền vững.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh là khái niệm không mới song được xác định rất phong phú và thường gắn liền với những hoạt động cụ thể. Có một số cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh như sau: - Theo lý thuyết thương mại truyền thống, các nhà kinh tế xem xét năng lực cạnh tranh thông qua xem xét lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất, vì các yếu tố sản xuất vẫn được coi là các điều kiện cơ bản nhất của lợi thế cạnh tranh. - Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) nêu: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt, duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các thể chế, chính sách bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” – (Theo WEF 1997).
- UNCTAD thuộc Liên Hiệp Quốc cho rằng thuật ngữ sức cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được hiểu là “năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc nó cũng có thể được định nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp, hoặc nó còn được định nghĩa như định nghĩa thông thường là sức cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận”. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh nhưng nhìn chung các khái niệm này đều cho rằng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện thông qua khả năng duy trì và phát triển lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp đó. Tùy theo đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp mà năng lực cạnh tranh hay khả năng duy trì và phát triển lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp được phản ánh qua những tiêu chí khác nhau, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó. Đối với NHTM, năng lực cạnh tranh mang tính đặc thù bởi NHTM được xem là một doanh nghiệp đặc biệt, do sản phẩm kinh doanh của NHTM mang tính đặc biệt, đó là tiền tệ.
Tính chất doanh nghiệp đặc biệt của NHTM có thể nhận thấy qua một số định nghĩa về NHTM như: Theo Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp năm 1941 thì NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Hoặc theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam số 02/1997/QH10 có hiệu lực vào tháng 10/1998 thì: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi để cung cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán” và “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan” 1 Như vậy, các khái niệm về NHTM có thể khác nhau giữa các quốc gia, song chúng ta có thể hiểu và nhìn nhận khái niệm NHTM dưới góc độ sau: đó là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thực hiện giao dịch trực tiếp với các cá nhân, tổ chức kinh tế, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên. Tuy nhiên, dù là một doanh nghiệp đặc biệt nhưng một khi coi ngân hàng cũng là một doanh nghiệp thì việc xem xét năng lực cạnh tranh của NHTM cũng vẫn phải xem xét 1 Điều 10 - Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 1997 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đến khả năng tối đa hóa lợi nhuận. Do vậy, chúng tôi đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng cung ứng tốt nhất các dịch vụ kinh doanh tiền tệ nhằm duy trì và phát triển lợi nhuận, thị phần của ngân hàng đó một cách bền vững.2 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 1.1 Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế Sự phát triển kinh tế của một quốc gia phải được đóng góp từ sự phát triển của mọi ngành nghề trong xã hội.
Các ngành nghề kinh tế này để phát triển thì phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để tồn tại và mở rộng thị phần. NHTM cũng vậy, mỗi ngân hàng đều phải tăng cường sức cạnh tranh của mình để vừa tồn tại vừa có thể đem lại những dịch vụ tốt nhất cho nền kinh tế. Khác với những ngành kinh tế khác, năng lực cạnh tranh của ngành ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế bởi nó có liên quan đến mọi ngành nghề trong xã hội. Năng lực cạnh tranh của các NHTM càng cao thì khả năng cung ứng các dịch vụ về tiền tệ của nó cho các ngành nghề khác càng tốt và đó là một trong những yếu tố quan trọng giúp các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thêm sức mạnh kinh tế của một quốc gia.
Vai trò của NHTM đối với phát triển kinh tế được thể qua 3 chức năng cơ bản của NHTM.1 Vai trò nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế Để có thể phát triển kinh tế phải có vốn cho đầu tư phát triển. Những người cần vốn để đầu tư có thể huy động vốn trực tiếp từ những người thừa vốn, nhưng họ sẽ phải mất rất nhiều thời gian và chi phí để gặp nhau và giao dịch. Điều này cũng tương tự với những người có vốn nhưng đang tìm kiếm cơ hội đầu tư. Thay vào đó, NHTM chính là cầu nối để dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu với chi phí thấp và thời gian ngắn.
Có thể nói NHTM đóng vai trò huyết mạch (về vốn) trong việc huy động được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế một cách an toàn và hiệu quả. NHTM thực hiện được vai trò quan trọng này cho nền kinh tế thông qua chức năng trung gian tài chính của mình. Đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM, trong đó, chức năng trung gian tín dụng giữ vai trò then chốt. Với chức năng này, NHTM đóng vai trò trung gian để huy động và tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội (tiền tiết kiệm, vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế), biến nó thành nguồn tài chính tập trung để cung ứng tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn, phục vụ cho các mục đích sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cá nhân, thực hiện các họat động đầu tư ngắn và dài hạn với mục tiêu đảm bảo tạo ra sự phát triển bền vững và hiệu quả mang lại là cao nhất.1: Chức năng trung gian tài chính của NHTM Các tầng lớp dân cư, các Cho vay Các tầng tổ chức kinh tế, các đơn vị lớp dân sự nghiệp,.
có nhu cầu cư, các tổ vay vốn phục vụ sản xuất chức kinh Tiền gửi kinh doanh, tiêu dùng. tế, các tiết kiệm Ngân hàng đơn vị sự thương mại nghiệp,. có vốn tạm thời Tham gia vốn thực hiện các hoạt động đầu tư ngắn nhàn rỗi Đầu tư hạn, đầu tư dài hạn.2 Vai trò nâng cao hiệu quả lưu thông và giao dịch tiền tệ trong nền kinh tế Khi NHTM ra đời, giao dịch thanh toán giữa các tổ chức, cá nhân,. được thực hiện thông qua NHTM thay vì giao dịch trực tiếp như trước đây, giúp các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ này tiết kiệm được chi phí di chuyển, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như giảm thiểu rủi ro trong lưu thông tiền mặt.
Đồng thời NHTM cũng cung cấp các tiện ích thanh toán, dịch vụ ngân hàng, giúp cho các giao dịch về tiền trong nền kinh tế được diễn ra nhanh chóng, an toàn, hiệu quả. Ngoài ra, với mạng lưới rộng cả trong và ngoài nước, các NHTM giúp cho việc giao thương trong nước cũng như quốc tế được thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và hiệu quả hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Vai trò này được thể hiện qua chức năng trung gian thanh toán của NHTM.2: Chức năng trung gian thanh toán của NHTM Các tầng lớp Các tổ dân cư, các chức kinh tổ chức kinh tế, cá nhân, tế, các đơn vị Lệnh. là người sự nghiệp, .