Đặt vấn đề Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đang là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các nhà hoạch định chính sách phát triển thị trường, từ các nhà đầu tư và từ cả phía các ngân hàng. Kể từ thời điểm bắt đầu triển khai Đề án tái cơ cấu vào năm 2011, trải qua gần 4 năm, quá trình tái cơ cấu đã ghi nhận được một số kết quả nhất định. Trong quá trình tái cơ cấu, một vấn đề nổi trội đặc biệt được chú ý là cơ cấu sở hữu trong hệ thống các ngân hàng thương mại hiện nay. Các lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm trên thế giới cũng như thực tiễn tại Việt Nam đã cho thấy tầm quan trọng của cơ cấu sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam có ý nghĩa thực tiễn lớn lao vì ba nguyên nhân. Một là, nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-oriented) thay vì dựa vào thị trường (market-oriented), do đó hệ thống ngân hàng chiếm vai trò chi phối trong việc phân bổ nguồn vốn của nền kinh tế. Hai là, một đặc thù nổi trội của nền kinh tế Việt Nam là vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước trong nhiều lĩnh vực, kể cả ngân hàng. Ba là Việt Nam hiện tại đang đặt ra những giới hạn về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Do đó, nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu nói chung và tác động của sở hữu nhà nước nói riêng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ giúp đưa ra các hàm ý chính sách về việc giới hạn hay khuyến khích các hình thức sở hữu khác nhau với mục tiêu là điều chỉnh cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng hướng tới cấu trúc sở hữu tối ưu, gia tăng hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống, qua đó giúp phát triển thị trường tài chính cũng như nền kinh tế. Bên cạnh đó, tuy đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào vai trò của cấu trúc sở hữu đối với hiệu quảhoạt động của các công ty ở Việt Nam nhưng các nghiên cứu này chủ yếu xem xét trường hợp các công ty phi tài chính trong khi rất ít các nghiên cứu khai thác vấn đề này ở khía cạnh hệ thống ngân hàng. Do đó, đề tài này nghiên cứu vai trò của cấu trúc sở hữu đối với hiệu quả hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 động của các ngân hàng trên thị trường Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á sẽ đóng góp thêm vào kho tàng học thuật bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này ở các quốc gia mới nổi với những đặc thù riêng, từ đó giúp mở rộng thêm hiểu biết về vai trò của cấu trúc sở hữu ở các thị trường mới nổi và đưa ra các hàm ý hữu dụng về mặt chính sách. Mục tiêu nghiên cứu Xuất phát từ tính cấp thiết của mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam cũng như một số quốc gia Đông Nam Á.
Mục tiêu nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa thành các câu hỏi nghiên cứu sau: 1) Sở hữu nhà nước có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng? 2) Sở hữu nước ngoài có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng? 1. Đối tƣợng nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu các ngân hàng đã niêm yết tại Việt Nam cũng như một số quốc gia Đông Nam Á giai đoạn từ năm 2007 đến 2015 nhằm củng cố tính vững của nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ cơ sở dữ liệu Datastream của Thomson Reuters. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến trên dữ liệu bảng với việc lựa chọn giữa hai phương pháp hiệu ứng cố định và hiệu ứng ngẫu nhiên.
Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp kiểm định và phân tích thống kê khác. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Như đã đề cập ở trên, tại Việt Nam, cấu trúc sở hữu nói chung và hai loại hình sở hữu cụ thể là sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài đóng vai trò quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trọng đối với hệ thống ngân hàng, và do đó, có thể tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của cấu trúc sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng là một vấn đề mang tính cấp thiết. Kết quả đến từ nghiên cứu này có ý nghĩa trên cả khía cạnh học thuật và thực tiễn.
Ở khía cạnh học thuật, đề tài đóng góp bằng chứng thực nghiệm về vai trò của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài đối với hiệu quả của các ngân hàng ở các thị trường mới nổi. Ngoài ra, ở khía cạnh thực tiễn, các kết quả từ đề tài giúp đưa ra các cơ sở cho các kiến nghị và hàm ý về mặt chính sách liên quan đến cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng nhằm phát triển bền vững hệ thống tài chính, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại 2.
Tổng quan về ngân hàng thương mại Lịch sử đã chứng minh sự phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường trong thời buổi toàn cầu hóa, hệ thống ngân hàng thương mại đã biến đổi mạnh mẽ từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu nay đã trở thành những ngân hàng hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia. Có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại, tuy nhiên về mặt tổng quan thì ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế. Nói một cách cụ thể thì ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các thực thể trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các thực thể trong nền kinh tế.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế. Vai trò của các định chế này có thể tóm lược trên các khía cạnh sau: - Trước hết, với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm thành các khoản tín dụng cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh thực hiện các hoạt động đầu tư. Đồng thời, ngân hàng thương mại là một trong những thành viên quan trọng nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các dự án và chương trình công cộng. Ngoài ra, ngân hàng thương mại cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Thứ hai, với vai trò thanh toán, ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử. - Với vai trò người bảo lãnh, ngân hàng thương mại cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. - Với vai trò đại lý, các ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng quản lý và bảo lãnh phát hành hoặc mua lại chứng khoán. - Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các ngân hàng thương mại còn là một kênh quan trọng để thực thi chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: i. Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý.
Hiệu quả hoạt động phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: - Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế - chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được. Ví dụ, những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là các ngân hàng quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ.
Như vậy, hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các đầu vào.