CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng 1.1 Khái niệm Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn. Trong thực tế có rất nhiều định nghĩa rủi ro khác nhau: Rủi ro tín dụng (Theo Hiệp ước Basel) là rủi ro do không chắc chắn hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được thỏa thuận và qui định trong hợp đồng. Theo thông lệ quốc tế thì rủi ro tín dụng là một loại rủi ro do sự suy giảm về khả năng trả nợ của khách hàng. Theo quyết định 18/2007/QĐ-NHNN, ngày 24/04/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Từ các định nghĩa trên, ta có thể thấy rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Theo Khan và Ahmed cho rằng rủi ro tín dụng trong ngân hàng là xác suất bên đi vay không thực hiện việc cam kết trả tiền của mình. Rekha Arunkumar trong bài nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cho rằng rủi ro tín dụng là sự không trả được nợ của người vay, nó vẫn là rủi ro quan trọng nhất cần được quản lý cho đến ngày nay.
Rủi ro tín dụng là được phản ánh trong thành phần vốn của nền kinh tế, ngân hàng được yêu cầu phải kiểm soát nó để ngăn chặn chống lại những rủi ro khác.2 Phân loại rủi ro tín dụng 1. Phân theo nguồn gốc hình thành rủi ro Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Phân theo tính chất của rủi ro tín dụng Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích,… dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù ngân hàng cho vay và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các qui định về quản lý và sử dụng khoản vay. Rủi ro chủ quan: là rủi ro thuộc về lỗi của ngân hàng hoặc bên đi vay do vô tình hoặc cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay. Đối với rủi ro chủ quan nếu có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục hoặc hạn chế được loại rủi ro này.3 Đo lường rủi ro tín dụng: Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, hoặc không đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều tiêu chí phản ánh RRTD của NHTM: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu - Nợ có vấn đề, cần cảnh báo sớm RRTD là khả năng không trả được nợ của khách hàng nên các Ngân hàng cần phát hiện sớm các khoản vay có vấn đề, thuộc cảnh báo sớm.
Khách hàng phá sản, lừa đảo, châu ỳ trong trả nợ vay là biểu hiện rõ nhất; bên cạnh đó các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau. Nhiều ngân hàng cho rằng nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác của cùng một chủ thể chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro tiềm ẩn. Trường hợp dù nợ chưa đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả được nhưng tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro tín dụng. Những thước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đo RRTD cho thấy rủi ro tín dụng ở độ rộng đối với nhiều mức độ khác nhau.
Điều này cho thấy, RRTD không chỉ thể hiện ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Trong đề tài này, RRTD được đo lường thông qua chất lượng thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của khách hàng. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, Quyết định 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007, Thông tư 02/2013 /TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN thì các khoản vay của các NHTM sẽ được chia thành 05 nhóm: - Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: + Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; + Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá và là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1. - Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; + Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; + Nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn (nhóm 2) ở một số trường hợp.
- Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; + Nợ gia hạn lần đầu; + Nợ được miễn hoặc giảm lãi cho khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; + Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3; + Các khoản nợ đặc biệt khác. - Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; + Khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; + Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 4; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 4; + Các khoản nợ đặc biệt khác. - Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: + Nợ quá hạn trên 360 ngày; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ha trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã bị quá hạn; + Khoản nợ quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; + Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; + Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 và tài sản; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 5; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 5. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 1.
Đối với ngành Ngân hàng Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Đồng thời làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng và tăng trưởng tín dụng. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể làm cho ngân hàng mất cân đối trong thanh toán, làm cho ngân hàng có nguy cơ thua lỗ, hoặc mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản nếu không có những biện pháp khắc phục kịp thời.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Một ngân hàng có rủi ro tín dụng cao sẽ làm giảm lòng tin khách hàng đối với ngân hàng. Ở những ngân hàng có rủi ro tín dụng cao thì khách hàng gửi tiền sẽ rút tiền gửi và gửi sang những ngân hàng có rủi ro tín dụng thấp hơn. Tình trạng này kéo dài lâu thì ngân hàng sẽ không còn nguồn vốn để cho vay và hoạt động kinh doanh bị giảm sút.
Đối với nền kinh tế Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, thực hiện chức năng huy động vốn của những người có vốn nhàn rỗi và cho những người cần vốn vay lại.