Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Thực trạng kinh doanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2017. Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM 2. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp là chỉ tiêu kinh tế phản ánh khả năng các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng các yếu tố nguồn lực về tài chính vào trong sản xuất kinh doanh để gia tăng lợi nhuận và đạt kết quả kinh doanh cao nhất, đồng thời góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường. Hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng thương mại được định nghĩa là khả năng sử dụng vốn, đo lường lượng vốn cần đầu tư để có một đồng lãi, sức khỏe và sự ổn định tình hình của ngân hàng và cuối cùng là lợi nhuận trên một cổ phần.
Những con số nầy thể hiện khả năng sử dụng các nguồn vốn để sinh lời của ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Theo giáo trình ―Quản trị ngân hàng thương mại của Nguyễn Văn Tiến (2015), các ngân hàng tạo ra lợi nhuận bằng cách đi vay, bán các khoản nợ theo các tiêu chí khác nhau như thanh khoản, rủi ro, mệnh giá, kì hạn, mức lãi suất… sau đó ngân hàng đem cho vay lại (mua các tài sản có) theo các tiêu chí khác nhau. Quá trình chuyển hóa tài sản này cho phép ngân hàng có thể đi vay ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, bởi vì ngân hàng có thể cấp tín dụng có thời gian dài hơn thời hạn tiền gửi. Việc đi vay ngắn hạn cho vay dài hạn thuộc về chức năng chuyển hóa kì hạn của ngân hàng.
Quá trình chuyển hóa tài sản và cung cấp dịch vụ tương tự như bất kì một quy trình sản xuất nào trong doanh nghiệp. Nếu ngân hàng sử dụng tài sản có tạo ra thu nhập cao và cung ứng các dịch vụ với giá thành thấp thì ngân hàng có lãi, ngược lại thì ngân hàng phải chịu lỗ. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thường có mối quan hệ với khả năng chấp nhận rủi ro ngân hàng (Hu và các cộng sự, 2004; Jimenez và Saurina, 2006; Boudriga và các cộng sự, 2009; Nikolaidou và Vogiazas, 2011). Theo Hu và các cộng sự (2004), các ngân hàng càng có lợi nhuận cao sẽ ít tham gia vào các hoạt động rủi ro bởi vì các ngân hàng này ít bị áp lực tạo lợi nhuận bằng mọi cách, từ đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 các ngân hàng này ưu tiên chọn lọc khách hàng có khả năng tài chính tốt hơn và rủi ro thấp hơn.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng là vấn đề quan trọng được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới và cả trong nước. Khủng hoảng tài chính gần đây đã chứng minh tầm quan trọng của lĩnh vực ngân hàng đối với nền kinh tế. Athanasoglou, Brissimis và Delis (2005) chỉ ra sự ổn định của hệ thống tài chính là phụ thuộc vào lợi nhuận lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là trong các thời kỳ khó khăn, suy thoái. Vì vậy, có nhiều bên liên quan (viện nghiên cứu, các nhà đầu tư…) quan tâm đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Hầu hết các học giả sử dụng cùng các chỉ số để đo lường hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng đó là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Adefeya và cộng sự (2015) định nghĩa ROA là một thước đo bằng cách sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROE là lợi nhuận của các cổ đông có được trên số vốn chủ sở hữu được đầu tư vào ngân hàng (Adefeya và cộng sự, 2015). Điều này cho thấy tỷ lệ ROA cao hơn nếu ngân hàng có cơ cấu vốn chủ sở hữu cao hơn (đòn bẩy thấp).
Mặt khác, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) thấp đồng nghĩa với cấu trúc nợ của ngân hàng chưa hợp lý và tối ưu. Do ROE không tham gia vào đánh giá mối quan hệ giữa các rủi ro liên quan và đòn bẩy tài chính, nên ROA được coi là chỉ số thông thường nhất để đo lường lợi nhuận ngân hàng (IMF, 2002). ROA là tỷ số thu nhập ròng trên tài sản ( Return on total assets). ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng.
Công thức tính như sau: Thu nhập ròng ROA = Tổng tài sản ROA là một chỉ số thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư. Phần vốn vay và vốn chủ sỡ hữu hình thành nên tài sản của ngân hàng. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận sẽ biểu hiện qua ROA. ROA càng cao cho thấy ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn trên phần chi phí bỏ ra ít hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tiếp theo là chỉ số ROE, ROE là tỷ số thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu ( Return on common Equity). Là một chỉ số quan trọng dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn. Công thức tính như sau: Thu nhập ròng ROE = Vốn chủ sở hữu Chỉ số này là thước đo quan trọng để đánh giá đồng vốn bỏ ra. Tỷ lệ này càng cao thì chứng tỏ việc sử dụng vốn của ngân hàng càng hiệu quả.
ROE càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Hassan và Bashir (2003) cho rằng ROA được ưa thích bởi hầu hết các cơ quan quản lý. Theo Athanasoglou và cộng sự, (2008); Alexiou và Sofoklis (2009) thì tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) cũng là một chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM thông qua tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần từ các khoản cho vay, đầu tư tài chính và phí dịch vụ so với mức tăng của chi trả lãi. Tỷ lệ NIM cao cho thấy ngân hàng đó kiểm soát chặt chẽ tài sản và nắm giữ các nguồn vốn có chi phí thấp.
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần cận biên NIM ( Net Interest Margin) đo lường chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng tạo ra được thông qua kiểm soát hoạt động sinh lời và các nguồn vốn có chi phí thấp. Công thức được tính như sau: Thu nhập từ lãi – Chi phí trả lãi NIM = Tổng tài sản 2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng do rất nhiều nhân tố khác nhau tác động, nhưng trong nội dung nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhân tố như: quy mô của ngân hàng TMCP, tỷ lệ vốn của ngân hàng, chất lượng của tài sản, sự đa dạng hóa hoạt động, phần vốn huy động của ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động bên cạnh đó là các yếu tố vĩ mô là tốc độ tăng trưởng GDP và yếu tố lạm phát nên trong nội dung trình bày này tác giả sẽ tập trung vào các nhân tố nói trên. Nhóm yếu tố bên ngoài 2.
Tốc độ tăng trƣởng GDP Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, là yếu tố phản ánh sự phát triển của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lĩnh vực trong một quốc gia như đời sống kinh tế - xã hội và thu nhập. Sự tác động của GDP ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thể hiện ở cả hai phía. Hệ thống ngân hàng làm gia tăng GDP và sau đó sự gia tăng này ảnh hưởng lại hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Trong nền kinh tế luôn có những chủ thể tạo ra thu nhập nhiều hơn chi tiêu thông thường và tích lũy lại tạo nên sự thặng dư.
Họ tìm kiếm những kênh an toàn hoặc tìm kênh đầu tư. Và các NHTM cũng là một kênh chủ yếu để sử dụng, các NHTM đã huy động khoản thặng dư bằng nhiều hình thức: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành các giấy tờ có giá. Do đó dòng tiền thặng dư đó không bị rút ra khỏi lưu thông hoặc cất trữ. Thông qua hệ thống NHTM nhiều dòng vốn hình thành và luân chuyển liên tục, thông suốt.
Bên cạnh đó hiệu quả kinh doanh của ngân hàng còn ảnh hưởng đến GDP khi tài trợ vốn cho doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất cả về quy mô lẫn trình độ kỹ thuật làm nâng cao chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất. Nếu hệ thống doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn hiệu quả thì có tác động ngược lại đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng khi gia tăng thêm nhiều thặng dư thu nhập từ trong nền kinh tế. Lạm phát Theo Mankiw (2009) thì lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của nền kinh tế theo thời gian. Xét trong một nền kinh tế, lạm phát thể hiện sự sụt giảm sức mua của đồng tiền ( đồng tiền mất giá).
Xét theo các nền kinh tế với nhau thì lạm phát là sự mất giá của đồng tiền này so với một hoặc nhiều đồng tiền khác. Có các loại lạm phát như lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã, siêu lạm phát. Trong hệ thống ngân hàng, lạm phát là một chỉ số quan trọng đến hiệu quả kinh doanh cụ thể là mức độ rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh. Mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực (Perry, 1992).
Nếu một tỷ lệ lạm phát như dự kiến, ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất để tăng lợi nhuận khi chi phí tăng. Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát không phải như dự kiến, ngân hàng không thể thực hiện các điều chỉnh tỷ lệ lãi suất để cân đối chi phí và lợi nhuận. Nhưng hầu hết các nghiên cứu quan sát tác động tiêu cực giữa lạm phát và lợi nhuận (Bourke, 1989; Molyneux và Thorton,1992; Hassan và Bashir, 2003; Kosmidou, 2006). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nhóm yếu tố bên trong 2. Quy mô ngân hàng (SIZE) Trong hầu hết các tài liệu tài chính, tổng tài sản tài sản được sử dụng đại diện cho quy mô của ngân hàng. Quy mô ngân hàng là đại diện của đo lường bằng lôgarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE).