Luận văn thạc sĩ UEH: Các nhân tố tác động đến nợ xấu NHTM Việt Nam

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tài chính hiện tại.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về nợ xấu tại Ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm nợ xấu

1.1.2. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu

1.1.3. Phân loại nợ và trích lập dự phòng

1.1.4. Tác động của nợ xấu

1.2. Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại Ngân hàng thương mại

1.2.1. Các nghiên cứu trước đây ở các nước

1.2.2. Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam

1.2.3. Tổng hợp của tác giả

1.2.3.1. Nhân tố từ phía khách hàng vay vốn
1.2.3.2. Nhân tố từ phía ngân hàng
1.2.3.3. Nhân tố khách quan môi trường kinh doanh và chính sách nhà nước

1.3. Kinh nghiệm quản lý nợ xấu của các nước và bài học cho Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm của các nước

1.3.2. Bài học cho Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1. Phân loại nợ xấu theo tiêu chuẩn Việt Nam

2.1.1. Từ trước năm 2013

2.1.2. Từ năm 2013 đến nay

2.1.3. Tình hình trích lập dự phòng

2.2. Tổng quan tình hình hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ 2009-2013

2.2.1. Sự tăng trưởng về quy mô tổng tài sản, nguồn vốn

2.2.2. Sự phát triển mạng lưới

2.2.3. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn

2.2.4. Hoạt động tín dụng

2.2.5. Các sản phẩm dịch vụ khác

2.3. Phân tích thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

2.3.1. Tình hình nợ xấu trong giai đoạn 2009-2013

2.3.2. Tốc độ tăng trưởng dư nợ và nợ xấu

2.4. Thực trạng xử lý nợ xấu tại Việt Nam

2.4.1. Tình hình xử lý nợ xấu hiện nay

2.4.2. Nguyên nhân tồn tại và giải pháp khắc phục

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

3.1. Các biến nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Kết quả nghiên cứu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

4.1. Giải pháp đối với các Ngân hàng thương mại

4.1.1. Đánh giá chính xác thực trạng nợ xấu

4.1.2. Phân loại nợ xấu để có các biện pháp xử lý phù hợp

4.1.3. Thay đổi phương thức cấp tín dụng để có thể kiểm soát việc sử dụng vốn đúng mục đích

4.1.4. Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để quản trị rủi ro

4.1.5. Giải quyết vấn đề quản trị nguồn nhân lực

4.1.6. Tăng cường chất lượng hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ

4.1.7. Kiến nghị đối với NHNN

4.1.7.1. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát NHNN đối với TCTD
4.1.7.2. Mua bán, hợp nhất, sáp nhập ngân hàng
4.1.7.3. Đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá NHTMNN
4.1.7.4. Cần cơ chế và khung pháp lý thích hợp cho việc mua bán và xử lý nợ xấu thông qua Công ty mua nợ và quản lý tài sản (AMC)
4.1.7.5. Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

4.1.8. Kiến nghị Chính phủ, các bộ ngành

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN CHUNG

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam

Nợ xấu là một vấn đề nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Theo các nghiên cứu, nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Việc hiểu rõ về nợ xấu và các nhân tố tác động đến nó là rất cần thiết để có những giải pháp hiệu quả. Nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay mà người vay không thể thanh toán đúng hạn, thường là sau 90 ngày. Tình hình nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những biến động lớn trong những năm qua, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

1.1. Khái niệm và phân loại nợ xấu

Nợ xấu được phân loại thành nhiều loại khác nhau, bao gồm nợ quá hạn và nợ không có khả năng thu hồi. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu được chia thành 5 nhóm dựa trên thời gian quá hạn và khả năng thu hồi. Việc phân loại này giúp ngân hàng có cái nhìn rõ hơn về chất lượng tín dụng và đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp.

1.2. Tác động của nợ xấu đến ngân hàng thương mại

Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản và uy tín của ngân hàng. Khi nợ xấu tăng, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro, dẫn đến giảm thu nhập và tăng chi phí. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế.

II. Các nhân tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại

Nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố khác nhau. Các nhân tố này có thể được chia thành ba nhóm chính: nhân tố từ phía khách hàng, nhân tố từ phía ngân hàng và nhân tố môi trường kinh doanh. Việc phân tích các nhân tố này giúp xác định nguyên nhân gốc rễ của vấn đề nợ xấu.

2.1. Nhân tố từ phía khách hàng vay vốn

Khách hàng vay vốn có thể gặp khó khăn trong việc trả nợ do nhiều lý do như tình hình tài chính cá nhân, khả năng quản lý tài chính kém hoặc sự biến động của thị trường. Những yếu tố này làm tăng nguy cơ nợ xấu tại ngân hàng.

2.2. Nhân tố từ phía ngân hàng

Chính sách cho vay, quy trình thẩm định tín dụng và quản lý rủi ro của ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nợ xấu. Nếu ngân hàng không có quy trình kiểm soát rủi ro hiệu quả, khả năng phát sinh nợ xấu sẽ cao hơn.

2.3. Nhân tố môi trường kinh doanh và chính sách nhà nước

Môi trường kinh doanh không ổn định và các chính sách của nhà nước có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Sự thay đổi trong chính sách kinh tế, lãi suất và các quy định pháp lý có thể tạo ra áp lực lên các ngân hàng và khách hàng vay vốn.

III. Phương pháp nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu

Để nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu, phương pháp định tính và định lượng được áp dụng. Phương pháp định tính giúp phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ góc độ lý thuyết, trong khi phương pháp định lượng sử dụng mô hình hồi quy để đo lường mối quan hệ giữa các biến.

3.1. Phương pháp định tính

Phương pháp định tính bao gồm việc phân tích tài liệu, phỏng vấn chuyên gia và khảo sát thực tế. Những thông tin thu thập được sẽ giúp làm rõ các nhân tố tác động đến nợ xấu từ góc độ lý thuyết và thực tiễn.

3.2. Phương pháp định lượng

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa nợ xấu và các nhân tố tác động. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của ngân hàng và các nguồn số liệu vĩ mô khác.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nợ xấu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố tác động đến nợ xấu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc hiểu rõ các nhân tố này không chỉ giúp ngân hàng cải thiện chất lượng tín dụng mà còn góp phần vào sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính. Các ngân hàng cần áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả để giảm thiểu nợ xấu.

4.1. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như tình hình tài chính của khách hàng, quy trình cho vay của ngân hàng và môi trường kinh doanh đều có tác động đáng kể đến nợ xấu. Những phát hiện này có thể được sử dụng để cải thiện quy trình quản lý rủi ro tại ngân hàng.

4.2. Ứng dụng các giải pháp giảm nợ xấu

Các ngân hàng cần áp dụng các giải pháp như cải thiện quy trình thẩm định tín dụng, tăng cường quản lý rủi ro và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng để giảm thiểu nợ xấu. Việc này không chỉ giúp ngân hàng tăng cường hiệu quả hoạt động mà còn bảo vệ lợi ích của khách hàng.

V. Kết luận và tương lai của nợ xấu tại ngân hàng thương mại

Nợ xấu là một thách thức lớn đối với ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, với những biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả và sự hỗ trợ từ chính phủ, tình hình nợ xấu có thể được cải thiện. Tương lai của nợ xấu phụ thuộc vào khả năng của ngân hàng trong việc thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh và nhu cầu của khách hàng.

5.1. Tương lai của nợ xấu tại ngân hàng

Dự báo rằng nợ xấu sẽ tiếp tục là một vấn đề cần được quan tâm trong thời gian tới. Các ngân hàng cần chủ động hơn trong việc quản lý rủi ro và cải thiện chất lượng tín dụng để giảm thiểu nợ xấu.

5.2. Đề xuất giải pháp cho ngân hàng

Cần có các chính sách và quy định rõ ràng từ phía nhà nước để hỗ trợ ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu. Đồng thời, ngân hàng cũng cần nâng cao năng lực quản lý và đào tạo nhân viên để đáp ứng tốt hơn với các thách thức trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố tác động đến nợ xấu tại một số ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu tại Ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm nợ xấu: Theo các sách giáo khoa tài chính, các tác giả thường đưa ra những thuật ngữ về nợ xấu như “bad debt”, “non-performing loan”, “doubtful debt” hoặc là các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose, 2009) Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quôc cho rằng định nghĩa về nợ xâu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng. AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên dã được nhập gôc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán dã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

Nói cách khác, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Theo Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng.

Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 EL = PD x EAD x LGD (Trong đó PD – Probability of Default: xác suất khách hàng không trả được nợ; LGD: Loss Given Default – tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD: Exposure at Default – tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ; EI: Expected Loss – tổn thất có thể ước tính) Trong Hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ giảm giá trị thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu. Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị.

IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu Đo lường chất lượng tín dụng là một nội dụng quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh và tính an toàn của NHTM. Một khoản vay tốt là khoản vay mà khách hàng thanh toán đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn.

Để đánh giá chất lượng tín dụng ta có thể xem xét chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ Chỉ tiêu nợ xấu cho ta số liệu cụ thể hơn để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng. Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn chỉ tiêu nợ quá hạn và phần nào cho thấy chất lượng tín dụng của các NHTM. Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng tín dụng cao của mình và ngược lại. Số dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức ≤ 5%, tỷ lệ nợ xấu ≤ 3%.

Tuy nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Bởi vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong qui trình tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng qui định. Tổng dư nợ cho vay Hệ số RRTD = x 100% (Trần Huy Hoàng, 2011) Tổng tài sản có Hệ số này cho thấy tỷ trọng khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có, tỷ trọng này càng cao thì lợi nhuận càng lớn nhưng cùng với đó là RRTD càng cao, hiệu quả hoạt động quản trị RRTD thấp.3 Phân loại nợ và trích lập dự phòng Phân loại nợ được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay của từng ngân hàng và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng giữa các khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay, có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình cho vay.

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung. Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.

Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Việc phân loại và lập dự phòng gây nhiều khó khăn cả về mặt lý thuyết và thực tế, các quôc gia có lựa chọn rất đa dạng cho hệ thống phân loại và lập dự phòng. Mặc dù có những điểm tương đồng, nhưng vẫn chưa có quy định và tiêu chuẩn quốc tế thống nhất. Ủy ban Basel đưa ra những hướng dẫn, nguyên tắc quan trọng nhằm mục tiêu hướng tới sự thống nhất trong phân loại các khoản nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở các quốc gia, nhưng không đưa ra một hệ thống phân loại nợ thống nhất hay các quy trình chuẩn hóa để đánh giá rủi ro tín dụng.

Ở Việt Nam trước đây quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng được thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007. Theo đó các TCTD được phép thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định lượng hoặc định tính (TCTD phải trình Ngân hàng Nhà nước chính sách dự phòng rủi ro và chỉ được thực hiện sau khi Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản). Nhóm nợ Phân loại theo phương pháp định Tỷ lệ trích lập dự lượng (số ngày quá hạn) phòng (%) 1 Dưới 10 ngày 0% 2 Từ 10 ngày đến 90 ngày 5% 3 Từ 91 ngày đến 180 ngày 20% 4 Từ 181 ngày đến 360 ngày 50% 5 Trên 360 ngày 100% Từ năm 2013, theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 thì việc phân loại nợ sẽ tập trung tại đầu mối duy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhất là CIC và các TCTD muốn tìm hiểu về khách hàng phải truy xuất thông tin từ CIC.4 Tác động của nợ xấu * Đối với các NHTM Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các NHTM. Nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ, ngân hàng mất đi cơ hội làm ăn khác, giảm vòng quay vốn, giảm doanh số cho vay của ngân hàng, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.

Khi nợ xấu tăng, thu nhập của ngân hàng giảm do không thu hồi được nợ và phát sinh thêm các chi phí khác như chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu. Ngoài ra nếu nợ xấu cao, ngân hàng có thể bị NHNN đưa vào giám sát đặc biệt, hạn chế khả năng mở rộng và kinh doanh. Nợ xấu làm ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Do hiện tại hoạt động chủ yếu của các NHTM là huy động tiền gửi và cho vay.

Khi các khoản cho vay gặp rủi ro, thu hồi nợ khó khăn hoặc không thu hồi đủ nợ vốn và lãi. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản tiền gửi. Sự mất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tính thanh khoản cũng như kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng.

Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác nên khi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ