Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng thương mại giữ vai trò huyết mạch trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, đi kèm với sự bùng nổ của quy mô tín dụng là nguy cơ gia tăng rủi ro nợ xấu, đe dọa trực tiếp đến an toàn tài chính hệ thống. Tại Việt Nam, quy mô dư nợ tín dụng đã tăng vọt từ 585.559 tỷ đồng năm 2006 lên mức 3.673.971 tỷ đồng vào năm 2015. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2008–2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân toàn hệ thống đạt 26,56%/năm, nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại tăng phi mã ở mức 51%/năm, đẩy tỷ lệ nợ xấu lên mức đỉnh điểm 4,08% vào năm 2012.

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Nhận diện, lượng hóa mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô cùng các yếu tố nội tại đặc trưng của ngân hàng đến tỷ lệ nợ xấu. Mục tiêu cụ thể là xây dựng mô hình định lượng tin cậy nhằm phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu trong vòng 10 năm từ 2006 đến 2015 trên mẫu 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các kịch bản kiểm soát rủi ro, đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm dần từ mức 3,25% năm 2014 xuống còn 2,55% vào năm 2015 và duy trì bền vững dưới ngưỡng an toàn 3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết bất cân xứng thông tin của Stiglitz và Weiss cùng lý thuyết kỷ luật thị trường và quản trị rủi ro ngân hàng theo chuẩn mực Basel. Theo hướng dẫn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nợ xấu được xác định là các khoản cấp tín dụng quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc có khả năng tổn thất cao, thuộc các nhóm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.

Mô hình nghiên cứu kế thừa các khung phân tích kinh nghiệm quốc tế của Makri và cộng sự, Klein, Keeton, cùng Selma và Jouini. Các khái niệm cốt lõi trong mô hình bao gồm: biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; nhóm biến đặc trưng ngân hàng gồm nợ xấu năm trước, tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy mô tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE, và tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động LTD; nhóm biến vĩ mô bao gồm tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP và tỷ lệ lạm phát hàng năm.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 27 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam với tổng cộng 270 quan sát hàng năm trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích đại diện cho các nhóm ngân hàng có quy mô vốn điều lệ nhỏ, vừa và lớn, đồng thời loại trừ các ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt mua lại bắt buộc 0 đồng như GPBank, OceanBank, VNCB hoặc các ngân hàng trong quá trình sáp nhập, tái cơ cấu sâu như PVcombank, SCB nhằm đảm bảo tính liên tục và độ tin cậy của chuỗi dữ liệu. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo tài chính kiểm toán thường niên của 27 ngân hàng, kết hợp với các chỉ số kinh tế vĩ mô công bố chính thức bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới World Bank.

Về phương pháp phân tích, tác giả tiến hành so sánh đồng thời 5 phương pháp ước lượng dữ liệu bảng: Hồi quy gộp OLS, Mô hình tác động cố định FEM, Mô hình tác động ngẫu nhiên REM, Phương pháp Momen tổng quát sai phân DGMM của Arellano và Bond, và Phương pháp Momen tổng quát dạng hệ thống SGMM của Arellano - Bover và Blundell - Bond. Lý do lựa chọn mô hình SGMM làm phương pháp ước lượng trung tâm là vì mô hình này giải quyết triệt để hiện tượng nội sinh xuất phát từ biến trễ nợ xấu năm trước, đồng thời khắc phục hoàn toàn hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan phần dư bậc một, mang lại các ước lượng vững và không chệch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ nợ xấu năm trước có tác động cùng chiều mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đối với tỷ lệ nợ xấu năm hiện tại. Điều này chứng minh nợ xấu có tính ỳ quán tính cao, thể hiện sự tích tụ của các khoản nợ xấu cũ chưa được xử lý dứt điểm qua các năm.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng tín dụng tác động cùng chiều đến tỷ lệ nợ xấu. Giai đoạn tăng trưởng tín dụng bùng nổ trên 26,56% mỗi năm từ 2008 đến 2011 với việc nới lỏng chuẩn thẩm định đã dẫn tới hệ quả nợ xấu tăng vọt 51% sau một chu kỳ trả nợ.

Thứ ba, tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP có mối quan hệ nghịch chiều rõ rệt với tỷ lệ nợ xấu. Khi GDP tăng trưởng tốt, khả năng trả nợ của doanh nghiệp được củng cố, giúp hạ thấp rủi ro tín dụng. Điển hình năm 2007 khi GDP đạt đỉnh 7,13% thì chất lượng nợ được kiểm soát rất tốt, ngược lại năm 2012 khi GDP giảm xuống 5,25% thì nợ xấu toàn hệ thống lập đỉnh 4,08%.

Thứ tư, khả năng sinh lời phản ánh qua chỉ số ROA và ROE có tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê với nợ xấu. Các ngân hàng có hiệu quả hoạt động cao duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp hơn từ 1,2% đến 1,8% so với nhóm ngân hàng hoạt động kém hiệu quả do họ không bị áp lực nới lỏng chuẩn cho vay để tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.

Thảo luận kết quả

Diễn biến nợ xấu tại Việt Nam phản ánh sự tương tác phức tạp giữa chu kỳ kinh tế và chính sách quản trị vi mô. Một phát hiện đáng lưu ý là trong giai đoạn 2009–2010, GDP và nợ xấu có biểu hiện tăng cùng chiều. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ gói kích cầu quy mô 143.000 tỷ đồng và mở rộng lên 160.000 tỷ đồng của Chính phủ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Dòng vốn giá rẻ được giải ngân nhanh chóng vào các dự án bất động sản và các lĩnh vực đầu cơ kém hiệu quả đã tạo ra bong bóng tài sản, trực tiếp làm bùng phát nợ xấu khi chính sách tiền tệ thắt chặt vào năm 2011 với lạm phát tăng cao. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu thực nghiệm của Louzis tại Hy Lạp và Klein tại khu vực Đông Âu.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ kết hợp hai trục tung: trục cột thể hiện giá trị tuyệt đối của nợ xấu tăng từ 18.989 tỷ đồng năm 2006 lên mức 129.043 tỷ đồng năm 2014 và giảm về 118.968 tỷ đồng năm 2015; trục đường minh họa tỷ lệ nợ xấu tương ứng dao động từ 2,55% lên đỉnh 4,08% rồi về mức 2,55%. Đồng thời, bảng ma trận tương quan giữa 7 biến độc lập giúp chứng minh không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng trong mô hình, khẳng định độ tin cậy của các hệ số hồi quy.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình cấp tín dụng và siết chặt chuẩn thẩm định cho vay. Ban điều hành các ngân hàng thương mại cổ phần cần thiết lập hạn mức tăng trưởng tín dụng thận trọng ở mức 14% đến 16%/năm, chấm dứt việc chạy theo quy mô tài sản bằng mọi giá. Khối Quản trị rủi ro phải triển khai định kỳ các kịch bản kiểm tra sức chịu tải tín dụng hàng quý nhằm phát hiện sớm các khoản nợ có nguy cơ chuyển nhóm theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, mục tiêu kiềm chế tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới mức 2,0% trong lộ trình từ năm 2016 đến năm 2018.

Thứ hai, nâng cao chất lượng quản trị tài sản nợ và tối ưu hóa hệ số thanh khoản LTD. Khối Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại cần cơ cấu lại danh mục huy động, duy trì tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động LTD trong ngưỡng an toàn 75% đến 80%, tránh tình trạng mất cân đối kỳ hạn. Song song đó, ngân hàng cần gia tăng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng để nâng tỷ suất ROA lên trên mức 1,2% và ROE trên mức 12%, giảm bớt sự phụ thuộc vào biên lãi thuần rủi ro trong giai đoạn 2016–2020.

Thứ ba, đẩy mạnh xử lý dứt điểm nợ xấu tồn đọng qua Công ty Quản lý tài sản VAMC kết hợp trích lập dự phòng đầy đủ. Các tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại nợ minh bạch, sử dụng nguồn quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý các khoản nợ nhóm 5, đồng thời phối hợp cùng VAMC để hoàn thiện thủ tục phát mại tài sản đảm bảo, phấn đấu thu hồi và xử lý trên 30.000 tỷ đồng nợ xấu mỗi năm trong giai đoạn 2016–2019.

Thứ tư, hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao hiệu lực thanh tra giám sát ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm, đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia CIC, và tăng cường kiểm tra giám sát tình trạng sở hữu chéo, cho vay sân sau tại các ngân hàng thương mại cổ phần nhằm duy trì tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức an toàn bền vững dưới 3% trong giai đoạn 2016–2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Hội đồng Quản trị, Ban Tổng Giám đốc và Giám đốc Quản trị Rủi ro tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn cung cấp khung phân tích thực nghiệm để thiết lập khẩu vị rủi ro, điều chỉnh chiến lược tăng trưởng tín dụng và tối ưu hóa tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách tiền tệ và thanh tra giám sát tại Ngân hàng Nhà nước. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị trong việc đánh giá độ trễ chính sách, kiểm soát hạn mức tín dụng và xây dựng các chính sách an toàn vĩ mô nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học. Đề tài đóng góp phương pháp luận chuẩn mực trong việc áp dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng động SGMM để giải quyết hiện tượng nội sinh trong các nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng.

Nhóm thứ tư là các chuyên viên phân tích tài chính, quản lý danh mục đầu tư tại các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư. Dữ liệu và kết quả nghiên cứu cung cấp góc nhìn sâu sắc để đánh giá sức khỏe tài chính, chất lượng tài sản và triển vọng lợi nhuận của các cổ phiếu ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn áp dụng mô hình định lượng nào để xử lý triệt để hiện tượng nội sinh trong nghiên cứu nợ xấu? Luận văn sử dụng phương pháp Momen tổng quát dạng hệ thống SGMM của Arellano - Bover và Blundell - Bond. Phương pháp này sử dụng các biến trễ làm biến công cụ, giúp kiểm soát hoàn toàn hiện tượng nội sinh sinh ra từ biến nợ xấu năm trước, xử lý triệt để phương sai thay đổi và tự tương quan trên mẫu 27 ngân hàng với 270 quan sát.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh đã tác động tiêu cực đến nợ xấu tại Việt Nam như thế nào? Trong giai đoạn 2008–2011, tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 26,56%/năm khiến nhiều ngân hàng hạ thấp chuẩn cho vay. Kết quả là tốc độ tăng trưởng nợ xấu tăng vọt 51%/năm, đẩy giá trị nợ xấu lên đỉnh 129.043 tỷ đồng năm 2014, chứng minh sự đánh đổi nguy hiểm giữa mở rộng tín dụng nóng và an toàn tài sản.

Vì sao tăng trưởng GDP và nợ xấu lại có biểu hiện cùng chiều trong giai đoạn 2009–2010? Sự cùng chiều bất thường này xuất phát từ gói kích cầu kinh tế trị giá 160.000 tỷ đồng năm 2009. Mặc dù gói kích cầu giúp GDP duy trì tăng trưởng ngắn hạn, nhưng nguồn vốn giá rẻ bị phân bổ sai lệch vào các dự án bất động sản kém hiệu quả đã trực tiếp làm bùng phát nợ xấu khi nền kinh tế đối mặt với lạm phát cao năm 2011.

Các chỉ số sinh lời ROA và ROE có ý nghĩa như thế nào trong việc kiềm chế nợ xấu ngân hàng? Hệ số hồi quy trong mô hình cho thấy ROA và ROE có mối quan hệ nghịch chiều có ý nghĩa thống kê với nợ xấu. Ngân hàng có năng lực sinh lời cao và tỷ lệ nợ xấu thấp hơn từ 1,2% đến 1,8% do họ có đủ tiềm lực tài chính để trích lập dự phòng đầy đủ và không bị áp lực cấp tín dụng rủi ro.

Tiêu chuẩn nhận diện và phân loại nợ xấu trong luận văn được căn cứ vào văn bản pháp lý nào? Luận văn căn cứ vào Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kết hợp chuẩn mực IMF 2005. Nợ xấu được xác định là các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên, được phân loại cụ thể vào nhóm 3 dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 nghi ngờ và nhóm 5 có khả năng mất vốn.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định và lượng hóa thành công tác động của nhóm nhân tố vĩ mô và đặc trưng ngân hàng đến nợ xấu của 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006–2015.
  • Kết quả khẳng định nợ xấu năm trước, tăng trưởng tín dụng nóng có tác động cùng chiều mạnh mẽ, trong khi tăng trưởng GDP và khả năng sinh lời ROA, ROE tác động nghịch chiều đến nợ xấu.
  • Phương pháp Momen tổng quát dạng hệ thống SGMM chứng minh tính ưu việt vượt trội trong việc xử lý hiện tượng nội sinh và cung cấp hệ số ước lượng có độ tin cậy cao.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ 4 nhóm khuyến nghị đưa ra lộ trình cụ thể từ năm 2016 đến năm 2020 nhằm đưa nợ xấu toàn hệ thống giảm bền vững dưới ngưỡng an toàn 2,0%.
  • Công trình đóng góp nền tảng học thuật và thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng cũng như điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.

Các nhà quản trị ngân hàng và chuyên gia phân tích tài chính hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả mô hình định lượng vào công tác quản lý và kiểm soát chất lượng tín dụng ngay hôm nay.