Luận văn Thạc sĩ UEH: Phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu ngân hàng

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích ueh các nhân tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại cổ phần việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

127
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI: ”CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM"

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4.3. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Kết cấu luận văn

1.6. Ý nghĩa nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Tổng quan các vấn đề liên quan đến tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần

2.1.1. Hoạt động tín dụng

2.1.2. Rủi ro tín dụng

2.1.3. Nợ xấu trong ngân hàng thương mại

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

4. CHƯƠNG 4: KHẢO SÁT VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐỂ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nợ xấu ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Nợ xấu là một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Việc hiểu rõ về nợ xấu và các nhân tố tác động đến nó là rất cần thiết để có những giải pháp hiệu quả.

1.1. Khái niệm và phân loại nợ xấu trong ngân hàng

Nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay không còn khả năng thu hồi, thường là các khoản vay đã quá hạn thanh toán từ 90 ngày trở lên. Phân loại nợ xấu có thể dựa trên thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng.

1.2. Tình hình nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

Tình hình nợ xấu tại Việt Nam đã có những diễn biến phức tạp trong những năm qua. Từ năm 2008 đến 2011, nợ xấu tăng nhanh, gây ra nhiều lo ngại cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

II. Các nhân tố tác động đến nợ xấu ngân hàng thương mại cổ phần

Nhiều nhân tố có thể tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại cổ phần, bao gồm cả yếu tố vĩ mô và yếu tố nội tại của ngân hàng. Việc phân tích các nhân tố này giúp xác định nguyên nhân và tìm ra giải pháp hiệu quả.

2.1. Nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu

Các yếu tố như lạm phát, tăng trưởng GDP và tỷ lệ thất nghiệp đều có tác động lớn đến nợ xấu. Khi nền kinh tế gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng giảm, dẫn đến gia tăng nợ xấu.

2.2. Nhân tố nội tại của ngân hàng tác động đến nợ xấu

Các yếu tố như quy trình cho vay, quản lý rủi ro và chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu. Ngân hàng cần có các biện pháp kiểm soát rủi ro hiệu quả để giảm thiểu nợ xấu.

III. Phương pháp nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu

Để nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu, cần áp dụng các phương pháp định lượng và định tính. Việc thu thập dữ liệu từ các ngân hàng thương mại cổ phần và phân tích số liệu là rất quan trọng.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn 2006-2015. Các số liệu vĩ mô cũng được lấy từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức quốc tế.

3.2. Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng các phương pháp hồi quy và phân tích thống kê để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến nợ xấu. Việc so sánh kết quả từ các phương pháp khác nhau giúp tăng độ tin cậy của nghiên cứu.

IV. Giải pháp quản lý nợ xấu cho ngân hàng thương mại cổ phần

Để giảm thiểu nợ xấu, các ngân hàng thương mại cổ phần cần áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả. Việc cải thiện quy trình cho vay và tăng cường quản lý rủi ro là rất cần thiết.

4.1. Cải thiện quy trình cho vay

Ngân hàng cần xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ hơn, bao gồm việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng một cách kỹ lưỡng hơn để giảm thiểu rủi ro.

4.2. Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng

Cần có các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả, bao gồm việc theo dõi và đánh giá thường xuyên tình hình tài chính của khách hàng để có biện pháp xử lý kịp thời.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về nợ xấu ngân hàng

Nợ xấu là một vấn đề phức tạp và cần được giải quyết một cách đồng bộ. Các ngân hàng thương mại cổ phần cần có những chiến lược dài hạn để quản lý nợ xấu hiệu quả, từ đó góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia.

5.1. Tóm tắt các kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố tác động đến nợ xấu, từ yếu tố vĩ mô đến yếu tố nội tại của ngân hàng. Việc hiểu rõ các nhân tố này giúp đưa ra các giải pháp phù hợp.

5.2. Triển vọng tương lai của nợ xấu ngân hàng

Trong tương lai, việc quản lý nợ xấu sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Các ngân hàng cần tiếp tục cải thiện quy trình cho vay và quản lý rủi ro để đảm bảo sự phát triển bền vững.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Giới thiệu đề tài: “Các nhân tố tác động đến nợ xấu của NHTMCP Việt nam” • Chương 2: Lý luận chung về các nhân tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại • Chương 3: Thực trạng các nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam • Chương 4: Khảo sát và xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam • Chương 5: Giải pháp vận dụng các nhân tố tác động để quản lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa nghiên cứu Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu đã đưa ra được mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của yếu tố vĩ mô cũng như các yếu tố đặc trưng mà ngân hàng có thể kiểm soát được tác động đến nợ xấu của các ngân hàng. Điều này đưa ra định hướng để các nhà quản trị ngân hàng cũng như các nhà thực hành chính sách quốc gia kiểm soát tốt hơn chất lượng tín dụng, đồng thời đưa nợ xấu về mức an toàn cho sự phát triển của nền kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2.

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần 2. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng,tạo ra phần lớn thu nhập hoạt động và đại diện cho rủi ro lớn nhất của ngân hàng, có thể hiểu một cách đơn giản các khoản cho vay chính là kết quả của hoạt động này. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.

Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay…Tại Việt nam, theo luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Quốc hội : “Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn phải thanh toán. Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng.

Thông qua định nghĩa trên ta thấy rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong bốn trường hợp sau: • Không thu được lãi đúng hạn là mức độ rủi ro tín dụng thấp nhất. Khi phát sinh khoản lãi quá hạn ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào mục lãi treo phát sinh. Có nhiều nguyên do gây ra rủi ro này, ngoài trừ trường hợp khách hàng muốn chiếm dụng vốn thì cũng có nhiều trường hợp do vô tình, bởi vì sự mất cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 • Không thu được vốn đúng hạn có mức độ rủi ro cao hơn do một lượng vốn vay lớn bị mất. Khi đó ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang mục nợ quá hạn phát sinh.

Tuy nhiên rủi ro này có thể chỉ là tạm thời và có thể thu hồi được vì trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng đôi khi cũng phát sinh những sự kiện làm thay đổi tiến trình thanh toán như ngân hàng đã đề ra ban đầu. • Không thu đủ lãi là cấp độ rủi ro tín dụng cao hơn và nghiêm trọng hơn. Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã gặp khó khăn biểu hiện thông qua việc sử dụng vốn vay không hiệu quả. Trong trường hợp này, ngân hàng cần tìm hiểu và có những biện pháp hỗ trợ khách hàng như giảm lãi, tư vấn cho khách hàng hoặc có thể cung cấp hàng những khoản tín dụng cần thiết cho khách hàng nếu dự án đang đầu tư là khả thi.

• Không thu đủ vốn vay là mức độ rủi ro tín dụng cao nhất. Nó biểu hiện thông qua việc khách hàng không trả đủ vốn cho vay cho ngân hàng. Và một trong những cách xử lý, đó là chuyển khoản nợ đó vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xóa nợ coi như khép một hợp đồng tín dụng không hiệu quả. Nợ xấu trong ngân hàng thương mại Trong quá trình các ngân hàng thương mại cấp phát tín dụng cho các khách hàng, có rất nhiều yếu tố tác động làm cho khoản vay này không còn đảm bảo khả năng thanh toán, điều này gây tác động xấu đến chất lượng tín dụng của các Ngân hàng thương mại, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả hoạt động của ngân hàng.

Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là Nợ xấu là gì? Thước đo nó ra làm sao? Và phải dùng những chuẩn mực gì để phân loại? 2. Khái niệm Nợ xấu là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên thế giới để mô tả về các khoản vay đã quá hạn trả nợ gốc và lãi từ 90 ngày trở lên hay các khoản vay có khả năng trả nợ đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, hiện tại không có một quy tắc hay chuẩn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mực thống nhất khi thảo luận về vấn đề nợ xấu. Có thể đề cập đến một số khái niệm về nợ xấu như sau: Theo hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2005) đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các dấu hiệu nghi ngờ việc trả nợ đầy đủ của người vay” ( chẳng hạn như người vay bị phá sản hoặc lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính mà chưa có phương hướng xử lý).

Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu thì khoản vay này hoặc bất kỳ các khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thòi điểm xóa nợ hoặc thu hồi được gốc và lãi của khoản vay đó hoặc các khoản vay thay thế. Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ.Cũng đồng quan điểm với tổ chức IMF, nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên hợp quốc cho rằng “về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và /hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản nợ sẽ được thanh toán đầy đủ”. Còn chuẩn mực kế toán quốc tế về ngân hàng IAS 39, thường đề cập đến khái niệm này như những khoản cho vay bị tổn thất hay bị giảm giá trị (loans being impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ “nợ xấu” (non- performing loans). Chuẩn mực IAS 39 cho rằng nếu có đủ cơ sở chứng minh một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị thì tài sản sẽ bị ghi nhận giảm giá trị do tổn thất bởi các khoản vay xấu gây ra.

Về cơ bản, chuẩn mực IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay hơn là thời gian quá hạn, có thể chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn vẫn được xếp vào dạng “ Impaired Loans”. Thông thường IAS 39 sử dụng phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng bằng phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Tuy nhiên việc vận dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trong thực tế còn nhiều khó khăn, vì vậy nó vẫn đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS 9. Riêng Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, họ không đưa ra một định nghĩa cụ thể về nợ xấu.

Nhưng trong các hướng dẫn về hoạt động quản lý nợ xấu tại một số quốc gia, họ cho rằng một khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi xảy ra một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau:  Ngân hàng thấy người đi vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện bất cứ động thái gì để thu hồi nợ như xử lý tài sản bảo đảm.  Người vay đã quá hạn trả nợ (trên 90 ngày) Tại Việt nam, theo Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Cụ thể theo quyết định mới nhất Thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì việc xác định, phân loại và trích lập dự phòng rủi ro được quy định một cách rõ ràng và cụ thể như sau: Bảng 2.1: Phân loại nợ theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính 1. Nợ đủ tiêu chuẩn Nợ trong hạn, hoặc quá hạn Có khả năng thu hồi đầy đủ dưới 10 ngày cả nợ gốc và lãi đúng hạn 2. Nợ cần chú ý Quá hạn 10-90 ngày; nợ Có khả năng thu hồi đầy đủ điều chỉnh hạn trả nợ lần cả gốc và lãi, nhưng có dấu đầu hiệu suy giảm khả năng trả nợ 3.

Nợ dưới tiêu chuẩn Quá hạn 91-180 ngày; nợ Không có khả năng thu hồi gia hạn lần đầu; miễn hoặc nợ gốc và lãi khi đến hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính giảm lãi có khả năng tổn thất 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ