phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng nợ xấu tại các NHTM Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế nợ xấu tại các NHTM Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU 1.1 Khái niệm Hiện nay, có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại nợ xấu “non-performing loan” (NPL) thông thường nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, hiện nay tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau. Sau đây là một số quan điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam: Theo quốc tế: Theo tổ chức tiền tệ thế giới (IMF): trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS) 2, IMF định nghĩa về nợ xấu như sau “Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế (IMF„s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004) Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (NPL).
Chuẩn mực kế toán IAS 39 công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000, lần 2 vào tháng 12 năm 2003) và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần phải có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống do những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra. Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng khách hàng).
Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh. Theo Ủy ban basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc các khoản nợ được cho là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau đây xẩy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel committee on banking Supervision 2002) BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xẩy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được. Tại Việt Nam: khái niệm nợ xấu xuất hiện từ khi quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ra ngày 22/04/2005 của thống đốc NHNN Việt Nam. Theo đó nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) quy định tại điều 6, điều 7 của quyết định 493 nói trên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng nợ xấu, dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu: 1.1 Nguyên nhân khách quan: - Môi trường tự nhiên: khi có những thay đổi lớn về thời tiết như: bão, lũ, động đất … gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc kinh doanh gặp khó khăn và thua lỗ làm cho doanh nghiệp không khả năng trả nợ cho ngân hàng, và nợ xấu tăng lên là điều tất yếu. - Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội: Với nhiệm vụ là trung gian tài chính, rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự phát triển của nền kinh tế, tình hình chính trị trong nước, chính sách tài khóa … Khi tình hình chính trị không ổn định, hành lang pháp lý chưa phù hợp, hay những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới điều này tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh và hoạt động của ngân hàng dẫn đến hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn, nợ xấu gia tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.2 Nguyên nhân chủ quan: - Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng: hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện. Một số điều luật đã có nhưng chưa được triển khai như về phát mãi tài sản, cầm cố, các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất …) điều này gây ra những rủi ro tiềm ẩn lớn đối với lĩnh vực ngân hàng. Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, ngân hàng được phép bán tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, nhưng theo quy định hiện hành thì không thể sang tên bất động sản được nếu chủ sở hữu tài sản không đồng ý.
Nếu mang ra tòa thì thủ tục rườm rà, phức tạp, thời gian kéo dài … làm cho tài sản hư hỏng, giá trị thu hồi thấp so với giá trị thế chấp lúc vay. - Năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng yếu kém: việc quản trị rủi ro còn yếu kém dẫn đến việc đánh giá khả năng xẩy ra tín dụng thấp hơn so với thực tế cũng như khả năng ngăn ngừa rủi ro thị trường. Các ngân hàng chưa chú trọng quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 danh mục cho vay dẫn đến tỷ trọng lớn cho vay của những danh mục có rủi ro cao. Bên cạnh đó, một số ngân hàng vì chạy theo lợi nhuận nên chưa chú trọng đến công tác dự báo khi tập trung quá nhiều vốn vào các danh mục có rủi ro cao như cho vay để đầu tư vào thị trường bất động sản và chứng khoán.
Khi thị trường bất động sản đóng băng và thị trường chứng khoán giảm sâu kéo theo nợ xấu cho lĩnh vực này tăng nhanh. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu kém: đội ngũ cán bộ của NHTM hạn chế về năng lực và trình độ kế toán tài chính doanh nghiệp, chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ, thiếu kỹ năng nắm bắt và nhạy bén với các diễn biến kinh tế xã hội thì việc ra quyết định cấp tín dụng sẽ dễ dẫn đến các rủi ro tín dụng tiềm ẩn. Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra, giám sát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời.
Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng. - Vấn đề về đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngân hàng là phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ tầm và vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng cũng là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu cho ngân hàng. Một số cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay, đồng thời có sự cấu kết của các bộ tín dụng và khách hàng để che dấu sự thật, cố ý làm sai quy định NHTM. - Hoạt động cho vay giữa các ngân hàng và các doanh nghiệp có quan hệ với nhau: đây là một trong những hoạt động tiềm ẩn nhiều nợ xấu, vì các khoản cho vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giữa ngân hàng và các doanh nghiệp có quan hệ với nhau ngày càng nhiều và các điều kiện đảm bảo để cho vay dễ dàng bị bỏ qua và nợ xấu tăng cao là điều tất yếu.
- Việc trích lập dự phòng rủi ro không hợp lý: hiện nay chưa có quy định rõ ràng về việc phân loại nợ theo mức độ rủi ro của từng khách hàng, mà việc phân loại nợ theo chủ quan của từng ngân hàng. Vì vậy số liệu thống kê về nợ xấu không thống nhất giữa các cơ quan quản lý. Một số NHTM muốn thể hiện ngân hàng làm ăn có lãi, họ sẵn sàng điều chỉnh nhóm nợ xấu để trích ít dự phòng, do đó vẫn còn tồn đọng một tỷ lệ nợ xấu cao. - Thị trường mua bán nợ chưa phát triển: mặc dù đã được triển khai nhưng thị trường mua, bán nợ vẫn chưa phát triển, còn khá mới mẻ đối với người bán lẫn người mua.