Chương 1 : Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng TMCP Ngoại thương Đồng Nai. Chương 3: Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng TMCP Ngoại thương Đồng Nai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại: 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng : Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu cho người sử dụng, sự chuyển nhượng này có thời hạn, sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Có nhiều cách khác nhau để phân loại tín dụng ngân hàng, sau đây là một vài tiêu chí phân loại phổ biến: Thứ nhất, căn cứ vào mục đích của tín dụng có thể phân thành các loại sau: cho vay đầu tư dự án, cho vay vốn lưu động, cho vay tiêu dụng, cho vay đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu….
Thứ hai, căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng được chia thành ba nhóm: cho vay ngắn hạn (có thời gian dưới 1 năm), cho vay trung hạn (thời gian vay 1-5 năm), cho vay dài hạn (thời gian vay trên 5 năm). Thứ ba, căn cứ vào bảo đảm của tín dụng: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo. Thứ tư, căn cứ vào phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức, cho vay từng lần, cho vay đầu tư dự án… 1. Định nghĩa rủi ro tín dụng: Hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn mà chúng ta khó có thể lường hết được.
Do đặc điểm kinh doanh của ngân hàng chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội nên rủi ro ngân hàng có nhiều loại: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, RRTD… Trong tất cả Trang 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các loại rủi ro kể trên thì RRTD là loại rủi ro lớn nhất, phức tạp nhất, phổ biến nhất, và là rủi ro nhiều nhất dẫn đến đổ vỡ của các ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, RRTD chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu nhập từ dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ ½ đến 2/3 thu nhập ngân hàng.
RRTD là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. RRTD hiểu một cách đơn giản là việc ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản cho vay, hoặc là việc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ. RRTD có những đặc điểm sau: - RRTD xảy ra khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi.
Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. - RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. - Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn).
Rủi ro tín dụng là một yếu tố tất yếu khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra. Trang 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt định lượng: RRTD được phản ánh bởi chính số dư nợ quá hạn, nợ xấu của mỗi tổ chức tín dụng. Về mặt định tính: RRTD có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng. Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp và ngược lại chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì RRTD là rất lớn và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu RRTD theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ RRTD sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho ngân hàng có những biện pháp chủ động trong việc hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, đảm bảo đủ khả năng chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra. Phân loại rủi ro tín dụng: Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, mục đích, yêu cầu nghiên cứu.
Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia RRTD thành các loại khác nhau, sau đây là một số tiêu chí phân loại phổ biến … Nếu căn cứ vào hậu quả mang lại cho ngân hàng có thể phân thành rủi ro đọng vốn, và rủi ro mất vốn: - Rủi ro đọng vốn: khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ đúng hạn, ngân hàng không thu hồi được vốn vay, điều này có thể làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, thậm chí gây khó khăn, cản trở cho ngân hàng chi trả người gửi tiền. - Rủi ro mất vốn: khi khách hàng không có khả năng trả nợ lãi và gốc. Trong trường này ngân hàng có thể gặp phải một số tổn thất như sau: Trang 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tăng chi phí: nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng; tăng cường chi phí giám sát đối với khoản vay, tài sản đảm bảo; phát sinh các chi phí pháp lý như khởi kiện, thanh lý tài sản … Dòng ngân lưu suy giảm ảnh hưởng đến vốn tín dụng, doanh thu chậm lại hoặc giảm sút.
Khả năng sinh lợi giảm do mất gốc, lãi, phải tăng trích lập dự phòng. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại sau đây: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục đầu tư. - Rủi ro giao dịch phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề).
- Rủi ro danh mục là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao). Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì RRTD được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ quan do nguyên Trang 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.
Nguyên nhân dẫn đến RRTD: Có 4 nguyên nhân cơ bản gây nên RRTD: đó là nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân do chính ngân hàng và nguyên nhân từ các đảm bảo tín dụng tạo nên. Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài: Nguyên nhân bất khả kháng: Các thiệt hại từ nguyên nhân thiên tai, bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn và động đất. Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: các yếu tố như vấn đề chu kỳ kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá. Môi trường kinh tế có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh doanh của khách hàng và do vậy ảnh hưởng khả năng trả nợ của khách hàng, thực tế chứng minh trong thời kỳ suy thoái, khủng hoảng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thường tăng cao.