Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng công tác QTRRTD tại Ngân hàng TMCPĐTPTVN- Chi nhánh Hà Nội Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp và kiến nghị. Phần Kết Luận LUAN VAN CHAT LUONG download3 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng đã thu hút sự chú ý của nhiều bên, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển. Điều tra các yếu tố thúc đẩy các rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng là không chỉ quan trọng đối với quản lý của ngân hàng mà còn đối với cơ quan quản lý. Các nghiên cứu trƣớc đã đo các rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng tỷ lệ nợ xấu (NPL).
Trong các nghiên cứu ngân hàng, khoản vay đƣợc phân loại là nợ xấu khi thanh toán lãi, gốc quá hạn từ 90 ngày trở lên. Tỷ lệ nợ xấu cao hơn tác động làm cho các ngân hàng lợi nhuận thấp hơn và nếu vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn, nó có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng. Ảnh hƣởng tiềm năng về nợ xấu bao gồm các loại của khách hàng vay, quản lý ngân hàng và những thay đổi bất lợi trong tình hình kinh tế. Tầm quan trọng của quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả mời gọi nhiều bên đặc biệt là các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và quản lý các ngân hàng để điều tra các nhân tố rủi ro tín dụng trong ngân hàng.
Điều này sẽ giúp họ hiểu và đề xuất một khuôn khổ quản lý rủi ro tín dụng toàn diện. Ojo (2010) tập trung vào cả hai quy tắc Basel I và Basel II và thấy rằng theo Basel I, vốn của các ngân hàng tăng lên trong thời kỳ suy thoái kinh tế và giảm trong thời bùng nổ kinh tế và mức độ nhạy cảm tăng nguy cơ của Basel II tăng sự nhạy cảm của chi phí vốn. Ông thấy rằng Basel II có ảnh hƣởng đến việc cho vay. Ngoài ra, ông nói rằng Basel II có thể giúp các tổ chức tài chính nhƣ ngân hàng, quản lý cấp cao của tín dụng thông qua các quỹ của họ từ các khoản vay với trái phiếu.
Roy (2005) quan sát thấy rằng Basel II là một khái niệm quan trọng; các ngân hàng có thông tin tốt hơn và do đó có thể có hiệu quả kiểm soát rủi ro tôi Cột, chẳng hạn nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trƣờng. Cho những rủi ro có cách tiếp cận khác nhau để đo lƣờng nó. Vì vậy, cách tiếp cận cơ bản chỉ số, phƣơng pháp đo lƣờng nội bộ, và giá trị so với cách tiếp cận nguy cơ đã đƣợc sử dụng để kiểm tra rủi ro mà ngân hàng có thể điều chỉnh mình khi họ đƣợc tiếp xúc với mức LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com độ rủi ro nhất định. Trên cơ sở này, các học giả cũng kiểm tra rủi ro và xác nhận rằng các ngân hàng tham gia và ngân hàng thông thƣờng ở Thổ Nhĩ Kỳ điều chỉnh mình khi họ đƣợc tiếp xúc với các tình huống rủi ro.
Tuy nhiên, kết quả và phản hồi từ điều chỉnh là khác nhau đối với từng loại ngân hàng. Hassan, Hussain, Kayed (2011) đã phân tích các quy định Basel I vào ngân hàng Hồi giáo với 67 ngân hàng độc đáo 2002-2008 và thấy rằng các quy định thực sự buộc các ngân hàng Hồi giáo thiếu vốn để tăng vốn. Mặc dù các tác giả cho thấy các ngân hàng Hồi giáo điều chỉnh bản thân để yêu cầu vốn cao hơn, tăng nguy cơ không có ảnh hƣởng trên danh mục tài sản của ngân hàng. Sau này hơn nữa, Hassan và Dicle (2005) đã xem xét tác động của các quy định Basel II về ngân hàng Hồi giáo.
Phát hiện của họ cho thấy rằng mặc dù các khái niệm của Basel II không bao gồm các ngân hàng Hồi giáo, các mô hình mới về đánh giá rủi ro tín dụng có thể thực sự đƣợc thực hiện trong ngân hàng Hồi giáo. Kể từ khi nó cung cấp sự ổn định tài chính và kiểm soát rủi ro, các tác giả cho rằng Basel II nên đƣợc thực hiện bởi tài chính Hồi giáo, nhƣ các quy định có thể giúp các ngân hàng Hồi giáo cạnh tranh toàn cầu. Hassan và Chowdhury (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quy định của Basel II và tài chính Hồi giáo. Họ nói rằng kể từ khi ngân hàng Hồi giáo phải hoạt động theo chế độ quy định, ngân hàng Hồi giáo là khó khăn và phức tạp hơn so với các ngân hàng thông thƣờng vì nó bao gồm một tập hợp các tiêu chuẩn đạo đức và tôn giáo.
Các tác giả ủng hộ quy định Basel II và bình luận rằng quy định này sẽ giúp tăng cơ hội phát triển cho các ngân hàng Hồi giáo. Hơn nữa, Smolo và Hassan (2010) khuyến cáo rằng Basel II nên đƣợc áp dụng bởi các ngành ngân hàng Hồi giáo, nơi các quy định có thể phát triển một tỷ lệ an toàn vốn thích hợp sẽ làm tăng uy tín và lành mạnh của hệ thống tài chính Hồi giáo trên toàn thế giới. Với mục đích này, Hassan và Dicle (2007) cho rằng quy định Basel II có thể cung cấp cho quản trị doanh nghiệp tốt hơn cho ngân hàng Hồi giáo và giải quyết những vấn đề lớn trong ngành.2 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Hiện nay, đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện công tác LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com QTRRTD cho các ngân hàng hoặc tăng cƣờng hoạt động quản trị rủi ro cho các ngân hàng. Các đề tài này đã đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận về quản trị rủi ro và hầu hết đều phát triển theo một số mô hình lý thuyết sẵn có trên thế giới, cụ thể: (1) Nguyễn Thi Anh Đào (2012), Hạn chế rủi ro tín dụng doanh nghiệp tại NHTM cổ phần Ngoại Thƣơng – chi nhánh Đà nẵng.
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, khoa Quản trị kinh doanh Đại học Đà Nẵng. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Anh Đào đƣợc hoàn thành vào năm 2012, trong luận văn này, tác giả tập trung vào phân tích tình hình tín dụng của NHTM cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh Đà Nẵng từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro cho chi nhánh ngân hàng này. Trong luận văn này tác giả chƣa đƣa ra đƣợc phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể để áp dụng vào luận văn nên các số liệu thực sự còn chung và mang tính lý thuyết, chƣa phản ánh đầy đủ đƣợc rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang gặp phải. Đồng thời, điều này cũng ảnh hƣởng đến kết quả của luận văn là tập trung vào trả lời câu hỏi: “ Làm thế nào để hạn chế rủi ro của NHTM cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh Đà Nẵng” câu trả lời của tác giả thực sự chƣa đƣợc rõ ràng vẫn còn tình trạng để mở và chung chung (2) Trần Trung Tƣờng (2011), Quản trị tín dụng của các NHTM cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Luận án Tiến sĩ Tài chính ngân hàng, Khoa Tài chính ngân hàng trƣờng Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Trong luận án này tác giả đã hệ thống hóa góp phàn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị tín dụng của NHTM trong nền kinh tế. Luận án cũng đã phân tích rõ thực trạng tín dụng của các NHT cổ phần ở TP.HCM trong giai đoạn hiện nay, xác định đƣợc những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của quản trị tín dụng tại các NHTM cổ phần ở TP. Luận án cũng đã đƣa ra đƣợc một số giải pháp có ý nghĩa đối với quản trị tín dụng của NHTM cổ phần ở TP.HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam trong thời gian tới.
Trong luận án này tác giả cũng đã sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu có tính thực tiễn giúp cho số liệu trong luận án có tính sát thực với thực tế. Xong luận án LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com này chỉ đƣợc tiến hành với đối tƣợng là các NHTM cổ phần trên địa bàn TP. Luận án chỉ tập trung vào quản trị tín dụng với một hình thức chủ yếu là cho vay, vì vậy tính tổng quát của thuật ngữ tín dụng bị hạn chế. (3) Nguyễn Thị Ánh Thúy (2009), Nâng cao chất lƣợng QTRRTD tại NHTM cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh TP.HCM trong quá trình hội nhập quốc tế.
Luận văn Thạc sĩ kinh tế tài chính ngân hàng, khoa Tài chính – ngân hàng trƣờng Đại học kinh tế TP. Luận văn của Nguyễn Thị Ánh Thúy đƣợc hoàn thành vào năm 2009. Trong luận văn này tác giả tập trung vào nghiên cứu việc nâng cao chất lƣợng QTRRTD tại NHTM cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh TP.HCM trong quá trình hội nhập quốc tế thông qua việc phân tích thực trạng QTRRTD tại chi nhánh ngân hàng này, những mặt đạt đƣợc những mặt còn tồn tại từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng QTRRTD tại chi nhánh ngân hàng. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề QTRRTD tại NHTM cổ phần Ngoại thƣơng chi nhánh TP.
Luận văn của Lê Thị Hồng Điều đƣợc hoàn thành vào năm 2008, tác giả tập trung nghiên cứu các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng tại Ngân hàng BIDV, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu các nguyên nhân phát sinh rủi ro tại đơn vị Luận văn của Trần Thị Quỳnh Hoa đƣợc hoàn thành vào năm 2013 nghiên cứu về thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, tác giả sử dụng một số các chỉ tiêu để phân tích nhƣ nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, khả năng bù đắp rủi ro tín dụng, tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu từ đó đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại đơn vị Ngoài ra, hiện nay tại Việt Nam cũng đã có một số luận văn đề tài nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả QTRRTD tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố, ở địa phƣơng, cho các tổ chức tín dụng phi ngân hàng …. Tuy nhiên, đến nay chƣa có đề tài, công trình nghiên cứu về QTRRTD tại ngân hàng BIDV chi LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.