phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc trình bày gồm 03 chƣơng Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Một số vấn đề chung về Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo quyết định 493/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, tại khoản 1, điều 2 đề cập khái niệm “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng bao gồm: Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngƣời vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm lỗ và/hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trƣờng của vốn.
Trong trƣờng hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản. Đối với các nƣớc đang phát triển (nhƣ ở Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn,vì vậy tín dụng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần nhƣ là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lƣợng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn).
Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên ngƣời ta không thể nào loại trừ hoàn toàn đƣợc mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng nhƣ tác hại do chúng gây ra.2 Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại rủi ro tín dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích. Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại RRTD có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị và điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản nợ nếu nó có dấu hiệu không bình thƣờng. Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệm càng rõ ràng, càng cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản trị RRTD có hiệu quả. (+) Phân loại RRTD theo đối tƣợng sử dụng vốn vay, bao gồm 3 nhóm để đánh giá và quản lý: Rủi ro khách hàng cá thể: Thông thƣờng số lƣợng khách hàng sẽ rất nhiều, tuy nhiên mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn lẻ sẽ thấp, mức độ ảnh hƣởng của việc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là nhỏ; loại hình giao dịch, cơ cấu giao dịch dễ quản lý.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rủi ro khách hàng công ty, tổ chức kinh tế: Tùy theo qui mô của công ty, tổ chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hƣởng của rủi ro các khoản vay vào đối tƣợng này sẽ đƣợc đánh giá ở mức vừa hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanh toán khoản nợ là vừa hay cao. Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: Những ngân hàng hoạt động phạm vi toàn cầu có sự phân chia theo lãnh thổ quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc gia phân chia RRTD tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ nhƣ mức độ rủi ro khu vực Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam. (+) Phân theo phạm vi ảnh hƣởng của RRTD, có thể chia thành các loại RRTD: Rủi ro giao dịch đơn lẻ: Đƣợc hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch đơn lẻ nào đó, cụ thể nhƣ rủi ro của một khoản vay đối với một khách hàng. Loại rủi ro này gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của khoản vay hoặc khách hàng vay vốn.
Rủi ro hệ thống: Đƣợc hiểu là RRTD gắn liền với nhóm khách hàng, một ngành hàng, thậm chí với cả một nền kinh tế. Rủi ro hệ thống mang tính chất vĩ mô và liên quan nhiều đến việc quản lý danh mục cho vay. (+) Phân theo giai đoạn phát sinh, rủi ro tín dụng có các loại sau: Rủi ro trong thẩm định: Là rủi ro mà TCTD đánh giá sai khách hàng Rủi ro khi cho vay:Là rủi ro mà khi giải ngân vốn sai mục đích, làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả. Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ: Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát thu hồi nợ không theo dõi đƣợc dòng tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng vào việc khác không thu đƣợc nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu đƣợc nợ.
(+) Phân theo sản phẩm tín dụng thì RRTD bao gồm: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng: Là RRTD phát sinh từ những khoản cho vay, chiết khấu, thấu chi đƣợc hạch toán trong nội bảng. Rủi ro các sản phẩm phái sinh: Là RRTD phát sinh từ những sản phẩm ngoại bảng trong tài trợ thƣơng mại, nhƣ mở L/C, bảo lãnh. Việc phân loại RRTD theo sản phẩm tín dụng khác nhau có đặc điểm khác nhau cấu thành nên rủi ro khác nhau, để có thay đổi trong qui trình quản trị RRTD thích ứng.3 Các nguyên nhân của rủi ro tín dụng Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD, chúng ta có thể phân chia ở những nhóm nguyên nhân chủ yếu sau: 1.1 Những nguyên nhân bất khả kháng Những nguyên nhân bất khả kháng tác động đến khách hàng vay vốn làm cho họ bị suy giảm hoặc mất khả năng thanh toán cho ngân hàng, nhƣ: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay đổi về chính sách vĩ mô (chính sách xuất nhập khẩu, thuế quan.) nằm ngoài tầm kiểm soát của khách hàng và ngân hàng. Khi những thay đổi này thƣờng xuyên xảy ra, tác động liên tục đến khách hàng vay vốn cũng nhƣ ngân hàng, cũng có khi tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho ngƣời vay vốn.
Nhiều khách hàng vay vốn với bản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng hoặc khắc phục những khó khăn. Có những trƣờng hợp khách hàng vay vốn bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn gốc và lãi. Tuy nhiên, hầu hết các khách hàng bị tổn thất bởi những nguyên nhân bất khả kháng thì đều làm khả năng trả nợ suy giảm thậm chí không còn khả năng trả nợ.2 Nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngƣời vay Trình độ yếu kém của ngƣời vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ỳ. là 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Nhiều ngƣời vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu đƣợc lợi nhuận cao, để đạt đƣợc mục đích của mình họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng, nhƣ cung cấp thông tin sai sự thật, mua chuộc.Nhiều khách hàng vay vốn không tính toán kỹ lƣỡng, thích mở rộng đầu tƣ, hoặc không có khả năng tính toán kỹ những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh. Trƣờng hợp còn lại là khách hàng vay vốn kinh doanh có lãi nhƣng vẫn không trả nợ đúng hạn, họ chây ỳ với hy vọng có thể đƣợc xoá nợ, quỵt nợ, sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.3 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng Ngoài những nguyên nhân thuộc về chủ quan của phía đối tác (khách hàng), những nguyên nhân chủ quan thuộc về ngân hàng đƣợc Uỷ ban Basel (2000) đã thống kê cho thấy, rủi ro tín dụng thƣờng xảy ra ở 2 lĩnh vực chủ yếu: (i) mức độ tập trung, (ii) các vấn đề về quy trình cấp tín dụng. Mức độ tập trung có thể coi là nguyên nhân quan trọng nhất trong vấn đề rủi ro tín dụng. Rủi ro tập trung tín dụng tồn tại khi mức độ rủi ro tín dụng của một nội dung trong danh mục tín dụng trở nên tƣơng đối lớn so với mức vốn hoặc tài sản của Ngân hàng.
Rủi ro tập trung tín dụng không chỉ phụ thuộc vào giá trị tín dụng đã cam kết, mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ mất vốn cao khi xảy ra rủi ro. Rủi ro tập trung tín dụng có thể đƣợc phân thành 2 loại: Rủi ro tập trung tín dụng thông thƣờng và rủi ro tập trung tín dụng do các yếu tố rủi ro chung hay có liên hệ với nhau. Rủi ro tập trung tín dụng thông thường xảy ra khi tín dụng được tập trung quá nhiều vào một khách hàng, nhóm khách hàng, hoặc ngành/lĩnh vực, chẳng hạn lĩnh vực bất động sản. Trong khi đó, rủi ro tập trung tín dụng do sự liên hệ qua lại của các yếu tố rủi ro lại liên quan nhiều đến các yếu tố đặc thù, mà chỉ có thể phát hiện thông qua 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích.
Ví dụ cho loại rủi ro này là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á năm 1997. Trong cuộc khủng hoảng này, sự liên hệ rủi ro thị trƣờng và rủi ro tín dụng, cũng nhƣ giữa rủi ro này với rủi ro thanh khoản, đã tạo ra các khoản lỗ/mất vốn rộng khắp.