Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định nghĩa Mổ lấy thai là phẫu thuật để lấy thai và phần phụ của thai ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch ở thành bụng và đường rạch ở thành tử cung. Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng và vỡ tử cung khi thai đã nằm trong ổ bụng [6]. Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai Năm 1500, Jacob Nufer (Thụy Sỹ) thợ thiến lợn là người đầu tiên thực hiện rạch bụng vợ lấy con vì đẻ khó sau khi có 12 bà đỡ đã bó tay.
(Đức) rạch dọc tử cung (TC) lấy thai không khâu phục hồi, người mẹ chỉ sống được 25 ngày sau mổ. Phẫu thuật này áp dụng khắp châu Âu, tỷ lệ tử vong mẹ là 100%. Năm 1794 trường hợp MLT đầu tiên thành công cứu được cả mẹ và con tại bang Virginia của Hoa Kỳ [3]. Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung để lấy thai có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp và được gọi là MLT theo phương pháp cổ điển.
Tuy nhiên, tử vong mẹ vẫn cao do viêm phúc mạc và ông đã xuất bản một cuốn sách “Kỹ thuật mổ lấy thai” gọi là kỹ thuật Sanger [5], [14]. Năm 1805, Osiander đưa ra phương pháp phẫu thuật rạch dọc đoạn dưới TC để lấy thai ra nhưng không được chú ý đến [3], [16]. Năm 1926, Beek, Kerr, De Lee chủ trương rạch ngang đoạn dưới TC và khâu phủ phúc mạc đoạn dưới sau khi khâu cơ TC. Kỹ thuật này được phổ biến rộng rãi và thực hành đến tận nửa đầu thế kỷ XX, nhưng MLT vẫn còn hạn chế do nhiễm khuẩn và yếu kém trong gây mê hồi sức [15].
Năm 1940, Flemming phát minh ra kháng sinh đã làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn. Sau đó vào những năm 1950, gây mê hồi sức đã có bước tiến mới trong việc áp dụng các phương tiện gây mê hiện đại, thuốc tê, thuốc mê mới thì phẫu thuật MLT thực hiện an toàn hơn, đảm bảo hơn cho mẹ và con. Ở Việt Nam, trước năm 1950 do nguy cơ nhiễm khuẩn lớn, chưa có kháng download by : skknchat@gmail.2020 10 sinh và hạn chế của gây mê nên MLT được áp dụng rất hạn chế. Chỉ sau khi kháng sinh ra đời, MLT mới được áp dụng rộng rãi.
Năm 1956 phẫu thuật mổ dọc đoạn dưới TC lấy thai được áp dụng đầu tiên tại khoa sản Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội). Sau đó Đinh Văn Thắng thực hiện mổ ngang đoạn dưới TC lấy thai tại Bệnh viện Bạch Mai và ngày nay phương pháp này đang được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc [3], [6]. Giải phẫu của tử cung liên quan đến Mổ lấy thai 1. Giải phẫu tử cung khi chưa có thai * Hình thể ngoài: Tử cung gồm 3 phần: thân, eo và cổ tử cung (CTC).
Thân TC hình thang, đáy lớn ở trên, có 2 sừng ở hai bên. Sừng TC là chỗ chạy vào của vòi TC và là nơi bám của dây chằng tròn và dây chằng TC - buồng trứng. Thân TC dài 4cm, rộng 4,5cm; eo TC nhỏ dài 0,5cm; cổ TC dài 2,5cm, rộng 2,5cm. * Hình thể trong: TC là một khối cơ trơn, rỗng ở giữa tạo thành một khoang ảo gọi là buồng TC, khoang này dẹt và thắt lại ở eo.
Cấu trúc của TC gồm 3 lớp: lớp phúc mạc, lớp cơ và lớp niêm mạc: Lớp phúc mạc: có đặc điểm ở trên dính vào thân TC, ở dưới nơi phúc mạc tạo thành túi cùng bàng quang - TC có thể bóc tách được dễ dàng và phía sau phúc mạc tạo thành túi cùng Douglas. Lớp cơ: Lớp cơ ở thân TC gồm 3 lớp, lớp ngoài thớ dọc, lớp trong thớ vòng và lớp giữa gồm các cơ đan chéo nhau gọi là lớp cơ đan, lớp cơ này dày nhất và phát triển mạnh nhất. Trong lớp cơ này có nhiều mạch máu. Sau khi sổ thai và rau, lớp cơ này co chặt lại để tạo thành khối cầu an toàn của tử cung, thít chặt các mạch máu lại.
Eo TC về sau phát triển thành đoạn dưới chỉ có 2 lớp cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong không có lớp cơ đan nên trong trường hợp rau tiền đạo thường chảy máu rất nhiều. Cổ TC mỏng hơn và không có lớp cơ đan chéo chỉ có lớp cơ vòng ở giữa hai lớp cơ dọc. download by : skknchat@gmail.2020 11 Động mạch TC: là 1 nhánh của động mạch hạ vị, dài 13 - 15cm ngoằn ngoèo, lúc đầu chạy ở thành bên chậu hông sau dây chằng rộng, rồi chạy ngang tới eo TC, sau cùng lật lên chạy dọc bờ ngoài TC để rồi chạy ngang dưới vòi tử cung và có những nhánh tiếp nối với động mạch buồng trứng [8]. Thay đổi giải phẫu và sinh lý tử cung khi có thai * Thay đổi ở thân tử cung: thân tử cung là bộ phận thay đổi nhiều nhất trong khi có thai và chuyển dạ.
Trứng làm tổ ở niêm mạc tử cung và niêm mạc tử cung biến thành ngoại sản mạc. Tại đây hình thành bánh rau, màng rau, buồng ối để chứa thai nhi ở trong. Khi chuyển dạ, tử cung thay đổi dần để tạo thành ống đẻ cho thai ra. Trọng lượng: Khi chưa có thai, tử cung nặng 50 - 60g.
Sau khi thai và rau sổ ra ngoài, tử cung nặng trung bình 1000g (900 - 1200g). Tăng trọng lượng của tử cung chủ yếu trong nửa đầu của thời kỳ thai nghén. Bình thường khi chưa có thai cơ tử cung dày khoảng 1cm, đến khi có thai vào tháng thứ 4 - 5, lớp cơ tử cung dày nhất khoảng 2,5cm. Các sợi cơ tử cung có thể phát triển theo chiều rộng gấp 3 - 5 lần, theo chiều dài lên tới 40 lần.
Trong những tuần đầu của thai nghén, tử cung to lên chủ yếu do tác dụng của estrogen và progesteron. Nhưng sau 12 tuần lễ, tử cung tăng lên về kích thước chủ yếu do thai và phần phụ của thai to lên làm cho tử cung phải tăng lên theo [8]. Dung tích: khi chưa có thai, buồng tử cung có dung tích 2 - 4ml. Khi có thai, dung tích buồng tử cung tăng lên tới 4.000ml, trong các trường hợp đa thai, đa ối dung tích buồng tử cung có thể tăng nhiều hơn nữa.
Buồng tử cung khi chưa có thai đo được trung bình 7cm, vào cuối thời kỳ thai nghén, buồng tử cung cao tới 32cm. Hình thể: Trong 3 tháng đầu, đo đường kính trước sau to nhanh hơn đường kính ngang nên tử cung có hình tròn. Phần dưới phình to lên, có thể nắn thấy qua túi cùng bên âm đạo. Do thai chiếm không hết toàn bộ buồng tử cung làm cho tử cung không đối xứng, hình thể tử cung không đều.
Vào 3 tháng giữa, tử cung có hình trứng, cực to ở trên, cực nhỏ ở dưới. Trong 3 tháng cuối, hình thể tử download by : skknchat@gmail.2020 12 cung phụ thuộc vào tư thế của thai nhi nằm trong buồng tử cung [14]. Cấu tạo: Phúc mạc ở thân tử cung dính chặt vào lớp cơ tử cung. Khi có thai phúc mạc phì đại và giãn ra theo lớp cơ tử cung.
ở đoạn eo tử cung phúc mạc có thể bóc tách được dễ dàng ra khỏi lớp cơ tử cung, ranh giới giữa hai vùng là đường bám chặt của phúc mạc. Đó là ranh giới để phân biệt đoạn thân tử cung với đoạn dưới tử cung và đoạn dưới tử cung cũng là đoạn rạch để lấy thai và có thể phủ được phúc mạc sau khi đã đóng kín vết mổ ở lớp cơ tử cung [14]; Cơ ở thân TC gồm 3 lớp: lớp ngoài là lớp cơ dọc, lớp này vòng qua đáy tử cung và kéo dài tới các dây chằng của tử cung. Lớp trong là lớp cơ vòng, nó có các sợi cơ giống như các sợi cơ thắt ở quanh các lỗ vòi tử cung và lỗ trong CTC. Lớp giữa gồm các cơ đan chéo nhau gọi là lớp cơ đan, lớp cơ này dày nhất và phát triển mạnh nhất, trong lớp cơ này có nhiều mạch máu.
Sau khi sổ rau, lớp cơ này co chặt lại để tạo thành khối an toàn của tử cung, thít chặt các mạch máu lại, đó là sự cầm máu sinh lý [3]. Niêm mạc tử cung khi có thai biến đổi thành ngoại sản mạc. Khả năng co bóp và co rút: Trong khi có thai khả năng co bóp và co rút của cơ tử cung tăng lên rất lớn. Thể tích của tử cung có thể co lại còn 2/3, đang từ mềm toàn bộ có thể co chắc lại.
Tăng khả năng co bóp và co rút do 2 yếu tố: các sợi cơ tử cung đã tăng tình trạng dễ kích thích nên dễ bị co bóp hơn và các sợi cơ thường xuyên ở trong tình trạng giãn nên dễ dàng và sẵn sàng co rút lại [8]. * Thay đổi ở eo tử cung: Trước khi có thai eo tử cung chỉ là một vòng nhỏ, chiều cao 0,5 - 1cm, nằm giữa thân và cổ tử cung. Phúc mạc ở eo tử cung lỏng lẻo, dễ bóc tách ra khỏi lớp cơ vì giữa phúc mạc và lớp cơ có một tổ chức liên kết khá dày. Khi có thai và đoạn dưới tử cung được thành lập, phúc mạc cũng giãn dần ra.
Lớp cơ ở đoạn dưới tử cung chỉ có lớp cơ dọc ở ngoài, lớp cơ vòng ở trong, không có lớp cơ đan ở giữa. Khi có thai eo tử cung giãn rộng dần, mỏng ra tạo thành đoạn dưới tử cung. Đến cuối cuộc chuyển dạ đẻ đoạn dưới tử cung dài khoảng 10cm. Đối với sản phụ con so đoạn dưới tử cung được thành lập từ đầu tháng thứ chín.
Còn ở người con dạ đoạn dưới tử cung thành lập vào giai đoạn đầu của cuộc chuyển dạ. Đoạn dưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc chuyển dạ đẻ và dễ chảy máu khi có rau tiền đạo download by : skknchat@gmail. * Thay đổi ở cổ tử cung (CTC): khi có thai CTC mềm ra, mềm từ ngoài vào trung tâm. Vị trí và hướng cổ TC không thay đổi nhưng khi đoạn dưới được thành lập, CTC thường quay về phía xương cùng do đoạn dưới tử cung phát triển nhiều ở mặt trước hơn mặt sau.
Khi bắt đầu chuyển dạ đẻ CTC xoá và mở [8]. Các chỉ định mổ lấy thai 1. Chỉ định mổ lấy thai chủ động * Khung chậu bất thường - Khung chậu hẹp toàn diện là khung chậu có tất cả các đường kính giảm đều cả eo trên và eo dưới. Đặc biệt đường kính nhô - hậu vệ nhỏ hơn 8,5 cm; - Khung chậu méo khi đo hình trám Michaelis không cân đối; - Khung chậu hình phễu là rộng eo trên, hẹp eo dưới.
Chẩn đoán dựa vào đo đường kính lưỡng ụ ngồi.