CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ROBOT CÔNG NGHIỆP VÀ TAY MÁY Robot công nghiệp là thuật ngữ có nhiều quan điểm khác nhau. Có định nghĩa là: Robot công nghiệp là một cơ cấu cơ khí có thể lập trình được và có thể thực hiện những công việc có ích tự động không cần sự giúp đỡ trực tiếp của con người. Theo ISO thì “Rbot công nghiệp là một tay máy đa mục tiêu, có một số bậc tự do, dễ dàng lập trình, điều khiển tự động , dùng để tháo lắp phôi, dụng cụ và các vật dụng khác”. Do chương trình thao tác có thể thay đổi, thực hiện nhiều nhiệm vụ đa dạng nên có thể nói robot công nghiệp được hiểu như một thiết bị tự động, linh hoạt, bắt chước được các chức năng lao động của con người.
Theo đó, robot công nghiệp cũng là một hệ thống tự động hóa lập trình được. Robot công nghiệp có khả năng thực hiện được nhiều chức năng, phụ thuộc vào chương trình và công cụ làm việc. Lịch sử phát triển Từ thế kỉ 1, một số thiết bị máy móc được chế tạo đã có một số đặc tính làm việc như robot công nghiệp hiện nay. Jacques de Vancanson đã chế tạo một vài “búp bê nhạc sỹ”.
Năm 1805, Hentri Maillarder đã chế tạo một con búp bê cơ khí có khả năng vẽ tranh. Trong các đồ chơi đó, một số cơ cấu cam được sử dụng như một chương trình điều khiển thiết bị vẽ và viết. Trong cuộc cách mạng công nghiệp, một số phát minh cơ khí khác trong lĩnh vực dệt. c 4 Một số điểm mốc của lịch sử phát triển công nghệ robot Thời Sự kiện quan trọng gian Giữa thế J.de Vancanson chế tạo được một con búp bê cơ khí đánh nhạc kỉ 17 1801 J.Jacquard phát minh khung dệt vải có thể lập trình 1805 H.Maillader chế tạo búp bê cơ khí biết vẽ tranh 1892 S.Babbitt (Mỹ) đã thiết kế một cần trục truyền động động cơ có cơ cấu kẹp để gắp thỏi thép đúc ra khỏi lò nung 1938 W.
Roselund (Mỹ) đã thiết kế một cơ cấu phun sơn lập trình do công ty DeVibiss 1946 G. Devol (Mỹ) sáng chế thiết bị điều khiển có thể ghi lại những tín hiệu điện bằng từ hóa, sau đó được sử dụng để điều khiển một máy cơ khí 1951 Cơ cấu máy điều khiển từ xa có thể mang các vật liệu phóng xạ được chế tạo 1952 Mẫu máy điều khiển số đầu tiên được trưng bày ở Viện Công nghệ Massachusetts sau vài năm nghiên cứu chế tạo. Devol đăng ký bản quyền phát minh thiết kế Robot “Unimate” đầu tiên được giới thiệu là robot thủy lực, nó sử dụng nguyên lý điều khiển số cho điều khiển cơ cấu tay máy. 1961 Công ty Ford lắp đặt robot Unimate c 5 Thời Sự kiện quan trọng gian 1962 Công ty General Motor (GM) lắp đặt robot công nghiệp đầu tiên (Robot Unimate) trong dây chuyền sản xuất.
1966 Công ty robitTrallfa (Nauy) lắp đặt robot phun sơn 1968 Robot di chuyển “Shakey” được chế tạo tại Viện Nghiên Cứu Stanford (Mỹ). Robot này được trang bị một số cảm biến tiếp xúc, máy ảnh, có thể di chuyển trên mặt sàn 1970 Tay máy Stanford là robot nhỏ điều khiển bằng điện được chế tạo ở Đại học Stanford (Mỹ) 1971 Hiệp hội robot công nghiệp Nhật Bản (JIRA) bắt đầu đề xuất sử dụng robot trong công nghiệp Nhật Bản. 1973 Viện nghiên cứu Stanford (Mỹ) công bố ngôn ngữ lập trình máy tính đầu tiên cho Robot trên là ngôn ngữ WAVE. 1974 Công ty Cincinnati Milacron giới thiệu Robot T3 điều khiển bằng máy tính.
Robot “Sigma” được sử dụng trong công nghiệp lắp ráp – là một trong ứng dụng robot trong dây chuyền lắp ráp đầu tiên 1975 Phòng thí nghiệm Charles Stack Draper (Mỹ) đã chế tạo cơ cấu nhún có tâm ở xa sử dụng cho robot lắp ráp 1976 Robot PUMA (máy lắp ráp vạn năng có thể lập trình) được trình diễn 1978 Robot T3 của hang Cincinnati được lập trình thực hiện các công việc khoan và hàn trên các bộ phận của máy bay. c 6 Thời Sự kiện quan trọng gian Robot SCARA được sáng chế cho dây chuyền lắp ráp ở trường Đại học Yamanashi (Nhật). Một số robot thương mại này được giới thiệu vào năm 1981 1979 Robot công nghiệp bắt đầu một thời kì phát triển nhanh chóng, với các robot mới 1980 Robot truyền động trực tiếp (DDR) được sáng chế ở trường Đại học Carnegie – Mellon. 1981 Hãng máy tính IBM chế tạo Robot RS – 1 cho lắp ráp 1982 Một số hệ thống lập trình “OFF – line” được trình diễn cho robot 1986 Ứng dụng robot tiếp tục phát triển mạnh tập trung vào tích hợp robot trong các dây chuyền sản xuất linh hoạt (FMS) và hệ thống CIM 1991 Bước phát triển mới của nền kinh tế thế giới và tập trung sản xuất các sản phẩm phức tạp và ứng dụng công nghệ vi điện và công nghệ hiển thị trong robot của dây truyền sản xuất tự động hóa.
Vào những năm đầu thế kỷ 20, điều khiển số và cơ cấu điều khiển từ xa là hai công nghệ quan trọng trong sự nghiệp phát triển robot. Robot hiện đại là sự kết hợp của kỹ thuật điều khiển số và cơ cấu điều khiển từ xa. Ngoài ra, còn có những đóng góp giá trị về ngôn ngữ lập trình robot đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của robot hiện đại. Đó là công trình nghiên cứu về ngôn ngữ lập trình hướng, đối tượng cho robot của Viện Nghiên cứu Stanford: Ngôn ngữ thực nghiệm WAVE (1973) và ngôn ngữ AL (năm c 7 1974).
Ngôn ngữ VAL của công ty Unimate là ngôn ngữ lập trình Robot thương mại đầu tiên. Robot công nghiệp và các ứng dụng - Một trong các lĩnh vực đó là kỹ thuật đúc. Thường trong xưởng đúc công việc rất đa dạng, điều kiện làm việc nóng bức, bụi bặm, mặt hang thay đổi luôn và chất lượng vật đúc phụ thuộc nhiều vào quá trình thao tác. - Trong ngành gia công áp lực, điều kiện làm việc cũng khá nặng nề, dễ gây mệt mỏi.
Nhất là trong các phân xưởng rèn, dập. Đòi hỏi áp dụng robot công nghiệp - Trong ngành hàn và nhiệt luyện bao gồm nhiều công việc nặng nhọc, độc hại và ở nhiệt độ cao. Do vậy, ngành này nhanh chóng ứng dụng robot công nghiệp để thay thế cho con người. - Ngành gia công, lắp ráp thưởng sử dụng robot vào việc tháo lắp phôi và sản phẩm trong các máy gia công bánh rang, máy khoan, máy tiện bán tự động.
Cấu trúc cơ bản của robot công nghiệp - Robot công nghiệp được cấu hình bởi các yếu tố sau: + Tay máy là cơ cấu cơ khí gồm các khâu, khớp. Chúng hình thành cánh tay để tạo thành các chuyển động cơ bản, cổ tay tạo nên sự khéo léo, linh hoạt, bàn tay hoàn thành thao tác trên đối tượng. + Cơ cấu chấp hành tạo thành chuyển động cho các khâu cổ tay máy, động cơ là nguồn động lực của các cơ cấu chấp hành. + Hệ thống cảm biến gồm các cảm biến và cá thiết bị chuyển đổi tín hiệu cần thiết khác, các robot cần hệ thống cảm biến trong để nhận biết trạng thái của bản thân, các cơ cấu của robot và các cảm biến bên ngoài để nhận biết trạng thái của môi trường.
c 8 + Hệ thống điều khiển hiện nay thường là máy tính để giám sát và điều khiển hoạt động của robot. Kết cấu tay máy Tay máy là một phần cơ sở quyết định khả năng làm việc của Robot công nghiệp, đó là thiết bị bảo đảm cho robot khả năng làm việc như nâng hạ vật. Ban đầu con người chế tạo tay máy phỏng theo tay người. Còn hiện nay, tay máy rất đa dạng và nhiều loại khác xa tay người.
Tuy nhiên, vẫn sử dụng thuật ngữ như: Vai, cánh tay, cổ tay và các khớp để chỉ các bộ phận của nó. Trong thiết kế tay máy, người ta quan tâm đến các thông số ảnh hưởng khả năng làm việc. - Sức nâng, độ cứng vững lực kẹp của tay. - Tầm với của vùng làm việc.
- Khả năng định vị, định hướng phần công tác. Chúng có đặc điểm sau: Kết cấu gồm các khâu được nối với nhau bằng các khớp để hình thành một chuỗi động học hở các khớp chủ yếu là các khớp quay và các khớp trượt tùy theo cách bố trí mà các khớp có thể tạo ra tay máy có tọa độ đề các, tọa độ trụ, tọa độ góc và SCARA. + Tay máy kiểu tọa độ đề các: Là tay máy có 3 chuyển động cơ bản tịnh tiến théo phương của các hệ tọa độ gôc (cấu hình T. Trường công tác có dạng khối hình chữ nhật.
Do kết cấu đơn giản, loại tay máy này có độ cứng vững cao, độ chính xác cơ khí dễ đảm bảo vì vậy nó thường dùng để chuyển phôi liệu, lắp ráp, hàn trong mặt phẳng,… c 9 Hình 1.1 Tay máy kiểu tọa độ Đề các + Tay máy kiểu tọa độ trụ: Vùng làm việc của robot có dạng hình trụ rỗng. Thường khớp thứ nhất chuyển động quay. Ví dụ: Như robot 3 bậc tự do, cấu hình R.T như hình vẽ Hình 1. Tay máy kiểu tọa độ trụ + Tay máy tọa độ cầu: Vùng làm việc của robot có dạng hình cầu, thường độ cứng vững của loại robot này thấp hơn so với hai loại trên.
Ví dụ: Robot 3 bậc tự do, cấu hình R.T làm việc theo kiểu tọa độ cầu (Hình 1. Tay máy kiểu tọa độ cầu c 10 + Robot kiểu tọa độ góc: Đây là kiểu robot được dùng nhiều hơn cả. Ba chuyển động đầu tiên là các chuyển động quay, trục quay thứ nhất vuông góc với hai trục kia. Các chuyển động định hướng khác cũng là các chuyển động quay.
Vùng làm việc của tay máy này gần giống một phần khối cầu. Tất cả các khâu đều nằm trong mặt phẳng thẳng đứng nên các tính toán cơ bản là bài toán phẳng, ưu điểm nổi bật của loại robot hoạt động theo hệ góc là gọn nhẹ, tức là có vùng làm việc tương đối lớn so với kích cỡ của bản thân robot, độ linh hoạt cao. Tay máy kiểu tọa độ góc + Tay máy kiểu SCARA: Robot SCARA ra đời nă, 1979 tại trường đại học Yamanashi (Nhật Bản) là một kiểu robot mới nhằm đáp ứng sự đa dạng của quá trình sản xuất. Tên gọi SCARA là chữ viết tắt của “Selective Complaint Articulated Robot Arm” – Tay máy mềm dẻo tùy ý.
Loại robot này thường dùng trong công việc lắp ráp nên SCARA đôi khi được giải thích là “Selective Complaince Articulated Robot Arm”. Ba khớp đầu tiên của Robot này có cấy hình R.T, các trục khớp đều theo phương thẳng đứng. Sơ đồ robot SCARA hình 1. Tay máy kiểu SCARA 1.