mở đầu là hiện 12 tại rồi mới quay về quá khứ (Truyện hiện đại ta thấy định tuyến thời gian được tác giả sử dụng rất nhiều) hoặc chồng xếp thời gian thành không gian (Truyện dòng ý thức hay đồng hiện – tức là có sự đan cài). Cách tiếp cận thi pháp tự sự bằng nhân vật. Quan niệm nghệ thuật về con người “là nguyên tắc cắt nghĩa cuộc sống và con người, thể hiện trong sự nhất quán của cách nhìn, cách lý giải, tiếp cận đối với con người”[49, tr. Quan niệm nghệ thuật về con người đóng vai trò cốt yếu trong tổ chức, sắp xếp thế giới nhân vật, khi quan niệm hình thành tức là mỗi một nhân vật trong tác phẩm sẽ hình thành những con người mang những màu sắc đa diện cụ thể và chứa đầy điểm bất ngờ.
Trong thần thoại và truyền thuyết, con người được miêu tả như một năng lực, một sức mạnh để chế ngự thiên nhiên hay thực hiện một công việc nào đó tác động đến thiên nhiên và nhân loại. Vì vậy, thường con người xuất hiện ít được miêu tả về tâm lý, thường không có chân dung, không mang cá tính riêng (Nhân vật An Dương Vương trong truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy xuất hiện là ông vua giỏi, lo đánh giặc, giữ nước, thương dân…). Trong văn học trung đại, con người mang những đặc trưng cụ thể của tư tưởng nho giáo: - Con người vũ trụ: con người được miêu tả như sự hun đúc của đất trời, thiên nhiên mang tầm vóc lớn lao, kì vĩ (dù trong hoàn cảnh nào thì họ vẫn luôn có sức mạnh và bản lĩnh phi thường); - Con người hữu tâm, con người tri tâm (con người tỏ lòng): con người đặt tấm lòng, chí khí lên làm giá trị cao nhất để đối đãi, bày tỏ với người khác. Và với văn học hiện đại, đặc biệt là khung hướng văn học hiện thực, con người mang tính xã hội đậm nét.
Con người trong văn học hiện đại đã bắt đầu cách tân với hình ảnh cũ của mình nhưng lại gần với đời sống xã hội hơn. Trong văn học cách mạng, con người mang tính tập thể. Trong văn học thế sự, con người mang tính sinh hoạt, đời tư. Và cách tiếp cận con người theo hướng nghiên cứu đó cho ta thấy cái 13 nhìn đối sánh mang tính khách quan của mình về xã hội, thời đại và con người qua từng giai đoạn.
Nó hoàn toàn giúp ta tránh đi cái nhìn chủ quan, phiến diện một chiều. Và thi pháp tự sự nghiên cứu ở phương diện con người mang tính tổng thể đa chiều hơn. Tiếp cận thi pháp tự sự ở phương diện người kể chuyện – điểm nhìn – tiêu cự. Từ những nhận định mang tính khái quát, sơ lược về điểm nhìn trong các từ điển, chẳng hạn như điểm nhìn là “vị trí của người kể trong mối quan hệ với câu chuyện của anh ta” [49, tr.430] và người ta phân biệt điểm nhìn với ba loại chính: người kể chuyện toàn tri (người kể thông suốt mọi sự), người kể chuyện ngôi thứ ba và truyện kể ngôi thứ nhất, việc nghiên cứu điểm nhìn đã đi những bước dài trên hành trình kiếm tìm chân lý, trở nên có hệ thống, phức tạp và tinh vi hơn nhiều.
Đáng chú ý là các công trình của P. Một điểm dễ nhận thấy là hầu hết những nghiên cứu về điểm nhìn đều chú trọng vào người kể chuyện và phân loại thành nhiều kiểu người kể chuyện, chẳng hạn như đó là kiểu người kể chuyện “ngôi thứ nhất” hoặc “ngôi thứ ba”, người kể chuyện toàn tri hoặc toàn tri một phần (Partially omniscient) hoặc có giới hạn (limited), người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài, người kể chuyện kịch hoá (dramatized) hoặc phi kịch hoá (non-dramatized), người kể chuyện là các nhân vật trong truyện hoặc là không phải. Tức là luôn có sự lựa chọn và biến hóa phù hợp với từng cấu trúc phù hợp. Các kiểu người kể chuyện tuy có giới hạn nhưng đã được xác lập, trở thành những khái niệm công cụ cơ bản để từ đó mỗi nhà nghiên cứu tìm tòi và khai thác theo một cách thức riêng các vấn đề của điểm nhìn nghệ thuật cũng như nghệ thuật kể chuyện.
Người kể chuyện là nhân vật giấu mặt hoặc xuất hiện trong tác phẩm, tạo thành văn bản tự sự do hành vi ngôn ngữ của mình. Yếu tố này cho ta suy 14 đoán có thể câu chuyện đó có thể là của tôi để tạo niềm tin chắc chắn nhưng cũng có thể là của ai đó để mang tính khách quan. Và dù bằng cách nào nó đều mang lại mục đích cuối là niềm tin cho đọc giả. Chính điểm này sẽ tạo cho đọc giả niềm tin khách quan vào nội dung cốt truyện cũng như sự logic của các tình tiết để đẩy lên thành cao trào và gỡ nút.
Điểm nhìn là vị trí của người kể chuyện đối với câu chuyện - điểm nhìn đặt trong không gian và thời gian. Điểm nhìn chủ quan (từ trạng thái tâm lí) hay khách quan (ghi chép, trần thuật kiểu phóng sự). Điểm nhìn nào đi nữa đều tạo ra cho tác phẩm một niềm tin với độc giả khi họ tiếp xúc với sản phẩm mà vị trí người kể chuyện luôn phải mang tính liên kết sự kiện. Tiêu cự là khoảng cách của người kể chuyện đối với câu chuyện.
Cách tiếp cận này cho thấy vai trò của chủ thể sáng tạo, biến chất liệu hiện thực thành hình thức của quan niệm hay tư tưởng qua chủ đề tư tưởng được đề cập. Cách tiếp cận thi pháp tự sự từ không gian và thời gian nghệ thuật: từ không gian và thời gian hiện thực hay vật lý, chuyển hóa thành không gian và thời gian nghệ thuật được xây dựng và tổ chức lại theo quan niệm riêng của tác giả, có thể hoàn toàn không giống với trật tự của không gian và thời gian bên ngoài. Không gian nghệ thuật có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới, chịu ảnh hưởng của quan điểm tác giả, không gian nghệ thuật cũng biến đổi không ngừng trong lịch sử văn học. Thời gian nghệ thuật có tác dụng mô hình hoá chiều vận động của thế giới nghệ thuật, luôn luôn mang quan niệm, cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh có tính chủ quan.
Ngoài ra nó có nhiều dạng thức như thời gian sinh mệnh con người, thời gian lịch sử, thời gian tâm trạng, thời gian hiện thực. Tính thẩm mỹ của không gian và thời gian chính là nhịp điệu của truyện kể mang lại hiệu ứng cảm xúc cho bạn đọc: nhanh hay chậm, thư giãn hay căng thẳng, tù túng hay phóng túng. Cách tiếp cận thi pháp tự sự về ngôn ngữ nghệ thuật: cách tiếp cận này 15 được phát triển dựa trên cơ sở ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của con người, nhưng nó không chỉ tuân theo quy luật của ngôn ngữ tự nhiên mà còn phụ thuộc quy luật nội tại của tác phẩm nghệ thuật. Những nội dung nghiên cứu thi pháp ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm nghiên cứu từ pháp, cú pháp.
Nghiên cứu từ pháp là nghiên cứu cách dùng từ trong câu. Mỗi nhà văn có một trường từ ngữ riêng của mình, và với mỗi trường từ ngữ riêng đó, nhà văn thể hiện cách cảm nhận, cách mô tả thế giới của họ theo cách riêng. Nghiên cứu cú pháp là nghiên cứu những cách cấu tạo của câu. Sử dụng cú pháp như thế nào không chỉ là hình thức mà còn ẩn chứa trong đó cảm nhận của nhà văn về thế giới.
Như vậy, qua hướng nghiên cứu đó ta thấy ngôn ngữ của văn bản tự sự là một trong số các dạng đặc ngữ mà ngôn bản học nghiên cứu. Theo quan điểm cấu trúc, bất cứ văn bản tự sự nào cũng đều được xây dựng theo mô hình của câu mặc dù nó không phải là một tổng của các câu, bất cứ một truyện nào cũng là một câu lớn và câu kể chính là sự tỉnh lược của một truyện nhỏ. Trong văn bản tự sự có thể tìm thấy sự hiện diện của các phạm trù động từ cơ bản được khuyếch đại hay cải biên cho phù hợp với yêu cầu như thời, dạng, thể, ngôi. Ví dụ, đối với các tiểu thuyết được coi là tiểu thuyết tâm lý việc đan xen hai hệ thống thường là nét đặc trưng.
Ở đó những dấu hiệu có ngôi thường luân phiên một cách tuần tự với các dấu hiệu không ngôi. Mâu thuẫn đối lập của vấn đề nằm ở chỗ tâm lý không thể chỉ gói gọn ở việc dùng đến dạng vô nhân xưng thuần túy, bởi lẽ chính nội dung tâm lý của nhân cách lại được hiểu sai. Ngôi trong ngôn ngữ không thể được xác định nếu chỉ xuất phát từ tâm trạng, dự định hay các nét tính cách, mà phải căn cứ vào vị trí mã hóa của nó trong phạm vi văn bản tự sự. Hình thức tường thuật có những khả năng hai mặt: “thứ nhất, nó có thể tách các đặc điểm theo diễn biến cốt truyện; thứ hai, nó có khả năng lấp đầy các khoảng trống trung gian bằng 16 những thành tố không thể đoán trước” [49, tr.
Một quá trình quan trọng thứ hai diễn ra trong ngôn ngữ văn bản tự sự là quá trình tích hợp – hiện tượng được tách nhỏ ở cấp độ nào đó lại thường được nối lại ở cấp độ cao hơn như các trình tự ở cấp bậc cao hơn, tổng thể những cái được biểu hiện trong các đặc tính rời rạc, những hành động cùng loại của nhân vật. Với sự nghiên cứu và tiếp cận nền thi pháp các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn khách quan với những hướng nghiên cứu mang tính đặc thù cho thi pháp tự sự. Trên đây là những cách để tiếp cận thi pháp tự sự nhìn từ nhiều khía cạnh và các góc độ. Chính những cách tiếp cận đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tác phẩm, về nhân vật, về chủ đề tư tưởng cũng như giá trị ngôn từ mà tác giả đã sắp đặt và cấu thành tác phẩm nhà văn muốn thể hiện qua sự sáng tạo của mình.
Đó là điểm mang tính khách quan và tổng thể nhất với sự nghiên cứu của các tác giả trên thế giới và Việt Nam với cách tiếp cận này với các tác phẩm tự sự. Các cấp độ và bình diện tự sự Theo GS. Trần Đình Sử cấp độ tự sự có hai lớp, bao gồm cấp độ tự sự công khai và cấp độ tự sự riêng tư. Mỗi cấp độ chứa đựng một ý đồ riêng của tác giả khi xây dựng một hình tượng và thể hiện chủ đề qua đối tượng nhất định.
Cấp độ tự sự công khai (public narration) tức là “hướng đến đối tượng tiếp nhận bên ngoài thế giới văn bản”.