Tổng quan nghiên cứu

Tín dụng đầu tư nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc tài trợ nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội trọng điểm. Tuy nhiên, do đặc thù phục vụ các mục tiêu an sinh và kinh tế của Chính phủ, loại hình tín dụng này luôn tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Nghệ An, số liệu thống kê xuyên suốt giai đoạn 5 năm từ năm 2015 đến năm 2019 cho thấy tỷ lệ nợ xấu cho vay dự án đầu tư đã gia tăng liên tục từ mức 0,21% lên đến 0,32%. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự gia tăng áp lực nợ quá hạn, tình trạng nợ đọng kéo dài khó xử lý dứt điểm và những bất cập trong quy trình nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro tại chi nhánh.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng đầu tư; khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động giai đoạn 2015 - 2019 tại địa bàn tỉnh Nghệ An; xác định rõ các nhóm nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới nợ xấu; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính khả thi cao. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Nghệ An, sử dụng các báo cáo tài chính và dữ liệu tín dụng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực nghiệm nhằm kéo giảm tỷ lệ nợ xấu về dưới ngưỡng an toàn 0,20%, bảo toàn nguồn vốn chính sách trị giá hàng nghìn tỷ đồng của Nhà nước theo định hướng chiến lược phát triển đến năm 2025 và tầm nhìn năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các lý thuyết và chuẩn mực quản trị rủi ro ngân hàng hiện đại do Ủy ban Basel khởi xướng, kết hợp cùng khung phân tích tổn thất tín dụng của tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody's Analytics và hướng dẫn quản trị của Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore. Về mô hình đo lường rủi ro định tính, luận văn áp dụng mô hình 6C bao gồm 6 trụ cột cốt lõi: Tư cách đạo đức và thiện chí trả nợ của người vay (Character), Năng lực pháp lý và điều hành sản xuất kinh doanh (Capacity), Dòng tiền hoạt động và khả năng thanh toán (Cash), Giá trị và tính thanh khoản của tài sản bảo đảm (Collateral), Điều kiện kinh tế ngành và thị trường vĩ mô (Conditions), và Hệ thống kiểm soát tính tuân thủ pháp lý (Control).

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm nền tảng trong hoạt động ngân hàng: Rủi ro tín dụng đầu tư (nguy cơ tổn thất tài chính khi chủ đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả gốc và lãi); Tín dụng đầu tư của Nhà nước theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP; Quản trị rủi ro tín dụng (chuỗi quy trình khép kín gồm nhận diện, đo lường, ứng phó và giám sát kiểm tra); cùng hệ thống phân loại nợ 5 nhóm theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gắn liền với tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cụ thể từ 0% đối với nợ nhóm 1 lên đến 100% đối với nợ nhóm 5.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trong toàn bộ timeline nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2019. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo tài chính năm, báo cáo thống kê dư nợ tín dụng đầu tư, bảng cân đối kế toán và báo cáo phân loại nhóm nợ được cung cấp bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Nghệ An. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra thực nghiệm với bảng câu hỏi khảo sát chi tiết.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 47 cán bộ nghiệp vụ trực tiếp tham gia công tác tín dụng, thẩm định dự án, kế toán và kiểm tra nội bộ tại chi nhánh Nghệ An. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm đảm bảo thu thập dữ liệu từ 100% nhân sự chuyên môn, loại trừ triệt để sai số chọn mẫu và phản ánh chân thực nhất năng lực nội bộ của đơn vị. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ trọng và phương pháp phân tích nguyên nhân Pareto để bóc tách các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa các nhân tố định tính, trình độ nhân sự và chất lượng danh mục nợ vay.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu danh mục nợ tại chi nhánh có sự chuyển biến tiêu cực khi dư nợ nợ nhóm 1 giảm mạnh 35,83% trong giai đoạn 2015 - 2019 do ngân hàng bước vào giai đoạn tái cấu trúc, ngừng giải ngân các dự án vay mới và chỉ thực hiện các dự án chuyển tiếp hoặc chỉ định đặc biệt. Thứ hai, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng từ 0,21% năm 2015 lên 0,32% vào năm 2019, trong đó các khoản nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng chủ yếu và tập trung lớn ở các ngành như xây dựng, công nghiệp chế biến chế tạo và nông lâm thủy sản.

Thứ ba, tỷ lệ nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 có tốc độ gia tăng mạnh, đỉnh điểm là mức tăng 38,79% trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2019, phản ánh sự tích tụ nghiêm trọng của các khoản nợ tiềm ẩn nguy cơ mất vốn. Thứ tư, tỷ lệ xóa nợ ròng biến động ở mức thấp từ 0,02% đến 0,03%, chứng minh công tác thu hồi nợ đã xử lý ngoại bảng còn gặp nhiều trở ngại pháp lý và hiệu quả thu hồi chưa cao. Thứ năm, kết quả khảo sát 47 cán bộ cho thấy chất lượng nguồn nhân lực chuyên môn còn mỏng khi chỉ có 18 người (chiếm 38,30%) tốt nghiệp đúng chuyên ngành tài chính ngân hàng, còn lại 44,68% thuộc chuyên ngành kinh tế khác và 17,02% thuộc các chuyên ngành kỹ thuật, xã hội.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng gia tăng nợ xấu xuất phát từ đặc thù cơ chế tín dụng chính sách và những hạn chế trong quản trị nội bộ. Về mặt chính sách, các khoản vay tín dụng đầu tư thường có thời hạn dài từ 12 năm đến 15 năm, quy mô tài trợ lên đến 70% tổng mức đầu tư của dự án, trong khi tài sản bảo đảm chủ yếu là tài sản hình thành từ vốn vay với tính thanh khoản thấp và khó phát mại. Về mặt quản trị, chi nhánh chưa có công cụ giám sát dòng tiền hữu hiệu do các doanh nghiệp vay vốn chủ yếu mở tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại, tạo kẽ hở cho việc chiếm dụng hoặc chuyển dịch vốn vay sai mục đích.

Dữ liệu phân tích thực nghiệm khi được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn cơ cấu nợ theo ngành và biểu đồ Pareto phân tích nguyên nhân dư nợ quá hạn 5 năm cho thấy đa số sai sót bắt nguồn từ khâu thẩm định dự báo thị trường và thiếu hụt thông tin lịch sử khách hàng. So sánh với các ngân hàng thương mại, quy định trích lập dự phòng rủi ro 0,75% tổng dư nợ theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của ngân hàng chính sách không căn cứ vào mức độ rủi ro từng nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4, dẫn tới việc thiếu hụt nguồn tài chính cần thiết để bù đắp tổn thất thực tế khi các khoản nợ lớn rơi vào nhóm 5.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát dự án và kiểm soát dòng tiền sau giải ngân bằng việc thực hiện kiểm tra thực địa định kỳ hàng quý đối với 100% dự án đang triển khai, ràng buộc chủ đầu tư chuyển doanh thu bán hàng về tài khoản quản lý tại ngân hàng, thực hiện bởi Phòng Tín dụng và Ban Giám đốc chi nhánh từ nay đến năm 2023.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản trị rủi ro, đặt mục tiêu bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu để nâng tỷ lệ nhân sự có trình độ chuẩn tài chính ngân hàng lên mức tối thiểu 75% vào năm 2025, do Phòng Tổng hợp chủ trì phối hợp cùng các viện đào tạo chuyên ngành.

Thứ ba, thành lập bộ phận chuyên trách về nghiên cứu, phân tích và dự báo rủi ro tín dụng đầu tư tại chi nhánh, áp dụng hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ nhằm phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 0,20% và giảm tỷ trọng nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 xuống dưới mức 5% tổng dư nợ trong giai đoạn 2023 - 2025.

Thứ tư, kiến nghị Hội sở chính Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, tích hợp cơ chế kết nối tự động với cơ sở dữ liệu Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia CIC nhằm nâng cao độ chính xác trong thẩm định khách hàng đạt tỷ lệ phản hồi thông tin trên 90%.

Thứ năm, kiến nghị Chính phủ và các bộ ngành rà soát hoàn thiện khung pháp lý về tín dụng đầu tư, mở rộng thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm cho ngân hàng và điều chỉnh cơ chế trích lập dự phòng rủi ro linh hoạt theo từng phân nhóm nợ cụ thể trong lộ trình đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và cán bộ thẩm định tín dụng tại hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thể khai thác các giải pháp giám sát dòng tiền, áp dụng bộ tiêu chí 6C để nhận diện sớm các nguy cơ mất vốn và hoàn thiện quy trình cấp tín dụng trung dài hạn cho các dự án kinh tế trọng điểm.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính có thêm cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động của Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, từ đó hoàn thiện cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro 0,75% và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các định chế tài chính chính sách.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng có thể sử dụng mẫu khảo sát 47 cán bộ và phương pháp phân tích chỉ số nợ làm tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro danh mục tín dụng đầu tư công.

Thứ tư, các doanh nghiệp và chủ đầu tư dự án vay vốn có thể nắm bắt rõ các yêu cầu về năng lực tài chính, tiêu chuẩn minh bạch số liệu kế toán và quy định quản lý tài sản hình thành từ vốn vay để chủ động đáp ứng các điều kiện thẩm định khắt khe của ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Nghệ An biến động như thế nào trong giai đoạn 2015 - 2019? Tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh có chiều hướng tăng dần từ mức 0,21% vào năm 2015 lên 0,32% vào năm 2019. Sự gia tăng này phản ánh tình trạng suy giảm khả năng trả nợ của các dự án lớn, kéo theo sự gia tăng của nợ nhóm 5 không có khả năng thu hồi.

Mô hình định tính 6C được áp dụng như thế nào trong quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh? Mô hình 6C được áp dụng nhằm đánh giá toàn diện 6 khía cạnh: tư cách đạo đức (Character), năng lực tài chính pháp lý (Capacity), dòng tiền trả nợ (Cash), tài sản bảo đảm (Collateral), môi trường vĩ mô (Conditions) và hệ thống kiểm soát tuân thủ (Control) trước khi ra quyết định cấp vốn.

Quy mô mẫu điều tra thực nghiệm trong luận văn là bao nhiêu và được chọn theo phương thức nào? Luận văn tiến hành khảo sát toàn diện 47 cán bộ nghiệp vụ trực tiếp tham gia công tác tín dụng và quản lý rủi ro tại chi nhánh Nghệ An. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng để đảm bảo bao phủ 100% nhân sự chuyên môn, giúp kết quả đánh giá mang tính khách quan và tin cậy cao.

Nguyên nhân nào dẫn tới sự sụt giảm 35,83% của nợ nhóm 1 trong giai đoạn 2015 - 2019? Dư nợ nhóm 1 sụt giảm mạnh xuất phát từ việc Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện tái cơ cấu toàn hệ thống, tạm dừng ký kết hợp đồng cho vay đối với các dự án mới và chỉ tập trung nguồn vốn giải ngân tiếp cho các dự án chuyển tiếp hoặc dự án chỉ định.

Nghị định số 32/2017/NĐ-CP quy định tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro đối với tín dụng đầu tư như thế nào? Theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro hàng năm của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được điều chỉnh lên mức 0,75% tính trên tổng dư nợ tín dụng đầu tư, thay đổi đáng kể so với mức trích lập 0,05% của giai đoạn trước đó.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng đầu tư và mô hình định tính 6C theo các chuẩn mực ngân hàng hiện đại.
  • Đánh giá thực trạng chất lượng nợ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2019 với tỷ lệ nợ xấu tăng từ 0,21% lên 0,32%.
  • Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây ra nợ quá hạn, trong đó có yếu tố cơ cấu nhân lực khi tỷ lệ cán bộ đúng chuyên ngành tài chính ngân hàng chỉ đạt 38,30%.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp quản trị nội bộ đồng bộ gắn với mục tiêu kiểm soát 100% dòng tiền sau giải ngân và kéo giảm nợ nhóm 2 đến nhóm 5.
  • Đưa ra 3 nhóm kiến nghị vĩ mô tới Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Hội sở chính nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cấp công nghệ dữ liệu tín dụng đến năm 2030.

Để nhanh chóng khắc phục các điểm nghẽn trong quản trị nợ xấu, ban giám đốc chi nhánh cần chủ động ban hành quy chế phối hợp giám sát dòng tiền trước quý 2 năm 2023 và triển khai ngay kế hoạch đào tạo lại đội ngũ thẩm định. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết các mô hình phân tích trong luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng.