CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁI CẤU TRÚC TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG SAU KHỦNG HOẢNG 1.1 Khái Niệm Khủng Hoảng Tài Chính – Ngân Hàng Và Tái Cấu Trúc Khủng Hoảng Tài Chính Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khủng hoảng tài chính tùy thuộc vào từng trường phái kinh tế. Đề tài sử dụng định nghĩa sau về khủng hoảng tài chính vì nó có nội hàm rộng, bao quát những khía cạnh cơ bản nhất của khủng hoảng tài chính. “Khủng hoảng tài chính được hiểu là sự sụp đổ của thị trường tài chính, khiến cho nó không thể thực hiện được hai chức năng cơ bản nhất: (1) ổn định giá trị đồng tiền hoặc các tài sản tài chính như một phương tiện giao dịch, cất trữ tài sản, và (2) là trung gian chuyển vốn tiết kiệm vào những dự án đầu tư có hiệu quả nhất” (Lê Hồng Nhật, 2009). Khủng Hoảng Ngân Hàng Khủng hoảng ngân hàng được hiểu là tình trạng các ngân hàng bị phá sản hàng loạt do các tổ chức vay vốn không có khả năng trả nợ.
Do vậy nợ xấu tăng lên khiến nguồn vốn của ngân hàng suy giảm. Đi kèm với tình trạng này thường là sự giảm giá tài sản (ví dụ, thị trường bất động sản) (Contessi & El-Ghazaly, 2011). Tái Cấu Trúc Ngân Hàng Tái cấu trúc được hiểu là quá trình tổ chức lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho doanh nghiệp để thực hiện những mục tiêu đề ra. Một chương trình tái cấu trúc toàn diện sẽ diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành.
Trong tình hình Việt Nam, tái cấu trúc ngân hàng được xác định là cơ cấu lại quản trị, điều hành và cấu trúc lại tình hình tài chính của các ngân hàng để ngân hàng hoạt động tốt hơn (Bùi Thị Hồng Thu, 2011). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các Lý Thuyết Về Khủng Hoảng Tài Chính - Ngân Hàng Thế giới đã trãi qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử. Các nhà kinh tế học luôn quan tâm nghiên cứu nguyên nhân và cơ chế của khủng hoảng. Các lý thuyết phổ biến nhất về khủng hoảng tài chính bao gồm: thuyết tiền tệ (Monetarist View) của Friedman và Schwartz, quan điểm của trường phái Keyn (Keynesian View), và quan điểm về bản chất rủi ro của hoạt động tài chính của Stiglitz và Weiss.
Thuyết tiền tệ (Monetarist View) của Friedman và Schwartz (1963). Theo Friedman và Schwartz, khủng hoảng tài chính là do sự hoảng loạn của hệ thống ngân hàng (banking panics). Khủng hoảng khiến cho cung tiền tệ co hẹp, dẫn đến tổng cầu tiêu dùng và đầu tư giảm. Các nguyên nhân thực, ví dụ như sự suy sụp của nhiều doanh nghiệp, sụt giảm hiệu quả của nền kinh tế bị bỏ qua.
Theo họ, không cần thiết phải có sự can thiệp của Chính phủ. Các can thiệp này thậm chí có hại bởi vì những doanh nghiệp đáng ra phải bị phá sản lại được cứu vớt. Điều này gây nên sự gia tăng quá mức về cung tiền tệ và dẫn tới lạm phát. Quan điểm của nhà kinh tế theo trường phái Keyn (Keynesian View), tiêu biểu là Misky (1972) và Kindleberger (1978) lại ngược lại.
Khủng hoảng tài chính và tiền tệ được hiểu rộng hơn là sự mất giá của hầu hết các cổ phiếu, sự vỡ nợ của nhiều công ty tài chính và phi tài chính. Kèm theo đó là tình trạng giảm phát và rối loạn thị trường ngoại hối. Các yếu tố này khiến tổng cầu đầu tư và tiêu dùng giảm mạnh. Do vậy Nhà nước cần phải can thiệp.
Tuy nhiên các đặc trưng rõ ràng về nguồn gốc của khủng hoảng không được đưa ra. Do vậy khiến cho sự can thiệp của Chính phủ thiếu cơ sở vững chắc, dễ dẫn đến lạm phát và trì trệ, như chủ thuyết tiền tệ đã đề cập. Bên cạnh hai nhóm lý thuyết trên còn có nhóm quan điểm nhấn mạnh tới bản chất rủi ro của hoạt động tài chính, đại diện là Stiglitz và Weiss (1981). Hoạt động của hệ thống tài chính, đặc biệt là ngân hàng được xem là chịu rủi ro cao.
Các ngân hàng đầu tư hay tổ chức cho vay gặp vấn đề thông tin bất đối xứng (asymmetry of information) bởi họ không nắm rõ thông tin về khả năng sinh lợi và mức độ rủi ro TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 của dự án đầu tư bằng cá nhân hay tổ chức đi vay. Các ngân hàng có xu hướng muốn lãi suất cho vay cao và gia tăng các phí dịch vụ cho vay để bù đắp cho rủi ro mất vốn có thể xảy ra. Điều này khiến nhà đầu tư có xu hướng tìm đến các dự án có độ rủi ro cao, nhằm mang lại lợi nhuận cao để đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng (nếu may mắn thành công). Ngược lại, nếu đó là dự án có mức độ rủi ro thấp (mức sinh lãi ít hơn) sẽ ít có cơ hội tiếp cận vốn.
Do đó, khi lãi suất cho vay tăng lên thì: (i) Những chủ các dự án với độ rủi ro cao hơn (như đầu cơ vào bất động sản, chứng khoán thời bong bóng) sẽ dễ tiếp cận vốn hơn những nhà đầu tư cẩn trọng với những dự án có độ rủi ro thấp. Người ta gọi đây là sự chọn lầm phải điều nguy hại (adverse selection) (Akerlof, 1974). Do vậy, họ có thể giàu lên nhanh chóng, nếu việc đầu cơ thành công; nhưng nếu thất bại những doanh nghiệp này sẽ để ngân hàng gánh chịu những khoản nợ xấu hay xã hội phải gánh vác tổn thất qua gánh nặng cứu trợ ngân sách. Người ta gọi đây là hiểm họa do sự vô trách nhiệm (moral hazard).
Chính vì những lý do trên đây, những người theo trường phái kinh tế học thể chế (institutional economics) cho rằng, hoạt động của ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung, phải được giám sát hết sức cẩn trọng, nhằm hướng các giao dịch tới sự an toàn (Aoki, 1991; Mc Kinnon, 1991). Ví dụ, với những dự án có độ rủi ro rất cao (nhưng cũng có thể là những cơ hội đầu tư có tiềm năng nhất về hiệu quả, chứ không phải đầu cơ), thì cần phải có những quỹ đầu tư đặc biệt nhằm thẩm định, giám sát, rót vốn ban đầu, và lập cơ chế chia sẻ rủi ro. Chẳng hạn như các quỹ đầu tư mạo hiểm (vetunture capital funds). Theo Stiglitz-Weiss, do rủi ro chọn lầm và hiểm họa của sự vô trách nhiệm (adverse selection and moral hazard), hệ thống các ngân hàng kinh doanh hoạt động theo hình thức cho vay lấy lãi phải bị hạn chế và không được phép tham gia vào các lĩnh vực đầu tư có độ rủi ro quá cao này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Ngoài sự phân loại chức năng các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và các quỹ đầu tư theo mức độ rủi ro của từng lĩnh vực đầu tư, cần phải có nhiều tổ chức trung gian khác làm chức năng giám sát và cảnh báo rủi ro. Chẳng hạn như các tổ chức xếp hạng (rating companies). Các công ty này thường xuyên theo dõi sự thay đổi trạng thái tài chính của các công ty tài chính và phi tài chính. Sự xếp hạng này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng của các công ty trong việc gây quỹ từ thị trường vốn hay thị trường chứng khoán.
Tuy mỗi trường phái kinh tế có cách nhìn nhận khác nhau về khủng hoảng nhưng vẫn có sự thống nhất là hệ thống tài chính cần được giám sát chặt chẽ bởi tính phức tạp và rủi ro cao của nó. Nếu sự quản lý, giám sát không chặt chẽ, các bong bóng đầu cơ sẽ diễn ra. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng chỉ khi nền kinh tế vĩ mô trở nên mất cân đối rất nghiêm trọng thì bong bóng đầu cơ mới có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính và kinh tế trên quy mô lớn như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 -2008 mà bắt đầu là sự vỡ bong bóng của giá nhà đất (Lê Hồng Nhật, 2009).3 Các Nghiên Cứu Thực Nghiệm Về Tác Động Của Khủng Hoảng Kinh Tế - Tài Chính Toàn Cầu Đến Tình Hình Tài Chính Của Hệ Thống Ngân Hàng Trên Thế Giới Trong nghiên cứu “Bank capital: Lessons from the financial crisis” (2010) của IMF, Demirguc-Kunt, Detragiache & Merrouche nghiên cứu liệu nguồn vốn và cơ cấu vốn của ngân hàng có ảnh hưởng tới lợi nhuận cổ phiếu (stock returns) của ngân hàng đó trong cuộc khủng hoảng tài chính. Nghiên cứu sử dụng số liệu từ 381 ngân hàng ở 15 quốc gia và vùng lãnh thổ (Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hi Lạp, Hồng Kông, Italia, Nhật, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đài Loan, Anh, Mỹ) trong giai đoạn quý 1/2005 đến quý 1/2009.
Không phải ngân hàng nào cũng có dữ liệu theo từng quý, do vậy kích cỡ mẫu trong mỗi quý dao động từ 273 đến 313. Kết quả hồi quy cho các giai đoạn trước, trong và sau khủng hoảng cho thấy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong nghiên cứu “Bank funding structures and risk: Evidence from the global financial crisis” (2012) của IMF, Vazquez & Federico nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng đến khả năng phá sản của ngân hàng đó trong cuộc khủng hoảng tài chính. Nghiên cứu sử dụng số liệu từ 11000 ngân hàng ở Mỹ và châu Âu – những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất của khủng hoảng tài chính.
Số liệu được lấy theo năm từ 2001 đến 2009 để đánh giá được tình hình trước (2001–2007) và trong khủng hoảng (2008–2009). Các ngân hàng được phân loại theo những ngân hàng hoạt động hướng vào quốc tế và những ngân hàng hoạt động hướng vào trong nước, giữa các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Kết quả ước lượng từ mô hình Probit cho thấy rằng các ngân hàng có thanh khoản yếu và tỉ lệ đòn bẩy tài chính cao trong giai đoạn trước khủng hoảng có nhiều khả năng phá sản sau khủng hoảng. Các ngân hàng hướng vào hoạt động trong nước dễ bị rủi ro thanh khoản, trong khi các ngân hàng hoạt động mang tính quốc tế dễ bị các rủi ro thanh toán do tỉ lệ đòn bẩy tài chính quá mức.
Kết quả nghiên cứu ủng hộ các quy định của Basel III về thanh khoản và tỉ lệ đòn bẩy tài chính, đặc biệt về quy định đòn bẩy tài chính. Trong nghiên cứu “How risky are banks’ risk weighted assets? Evidence from the financial crisis” (2012) của IMF, Das & Sy nghiên cứu mối quan hệ giữa tài sản đã điều chỉnh rủi ro (risk weighted assets) và lợi nhuận cổ phiếu trong cuộc khủng hoảng tài chính.