MỞ ĐẦU Nhân ngày Sức khỏe Thế giới 7/4/2011, tổ chức Y tế Thế giới WHO đã đưa ra chủ đề “Chống kháng kháng sinh: không hành động hôm nay, không còn thuốc chữa mai sau” nhằm thức tỉnh cộng đồng về vấn đề vi sinh vật kháng thuốc đang đe dọa toàn cầu. Chống kháng Ngô Thị Hà 9 K18 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2009-2011 kháng sinh không phải là vấn đề mới, nhưng đã trở nên cấp bách, đòi hỏi nỗ lực tổng hợp giúp nhân loại tránh nguy cơ quay trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh. Cho đến nay, các giải pháp đưa ra nhằm hạn chế tình trạng kháng kháng sinh chưa phát huy tác dụng như mong đợi. Trong khi hướng phát triển các loại kháng sinh mới đang trong tình trạng bế tắc, các nhà khoa học đã tìm ra một nguồn kháng sinh tự nhiên đầy tiềm năng, đó là các peptide kháng khuẩn (antimicrobial peptides, AMPs).
Trong số các peptide này, cecropin chủ yếu được tách chiết từ côn trùng, có phổ kháng khuẩn rộng và có nhiều tiềm năng ứng dụng nên thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học. Để sản xuất AMPs nói chung và cecropin nói riêng, có ba con đường tiếp cận chính là (1) tách chiết từ tự nhiên (2) tổng hợp trực tiếp từ các axit amin theo con đường hóa học và (3) biểu hiện protein tái tổ hợp. Tuy nhiên, với yêu cầu thu được lượng lớn cecropin tinh khiết, hai phương pháp đầu đều có giá thành cao và khó áp dụng trong điều kiện phòng thí nghiệm ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, với mong muốn giảm chi phí và chủ động trong việc sản xuất cecropin được phân lập từ côn trùng ở Việt Nam cho các nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi tiến hành đề tài “Tách dòng và biểu hiện cecropin trong các hệ vector khác nhau”.
Đây là một hướng nghiên cứu còn khá mới ở Việt Nam nhưng hứa hẹn nhiều triển vọng. Đề tài được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Sinh Y và Phòng Genomic, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tình hình kháng kháng sinh 1.
Thực trạng kháng kháng sinh Ngô Thị Hà 10 K18 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2009-2011 Kháng kháng sinh là hiện tượng vi sinh vật (virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng) có khả năng vô hiệu hóa tác dụng của thuốc kháng sinh mà trước đó chúng vẫn mẫn cảm [63, 79]. Khi các loại thuốc mất tác dụng điều trị, vi sinh vật gây bệnh vẫn tồn tại và phát triển khiến bệnh lây lan nhanh ra cộng đồng thành dịch bệnh rất khó kiểm soát. Đặc biệt các nước nghèo và các nước đang phát triển phải đối mặt với hậu quả vô cùng nghiêm trọng do gánh nặng điều trị các bệnh nhiễm khuẩn và những chi phí bắt buộc cho việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới đắt tiền. Thực trạng kháng kháng sinh đã, đang và sẽ là vấn đề mang tính toàn cầu, thách thức toàn nhân loại.
Điều này đã được Tổng giám đốc WHO Margaret Chan nhận định nhân ngày Sức khỏe Thế giới 7/4/2011: “Một trong những mối quan ngại hàng đầu trong việc chăm sóc sức khỏe y tế hiện nay chính là tình trạng bệnh kháng thuốc kháng sinh. Đây chính là nguy cơ hàng đầu gây thách thức trong công tác chăm sóc y tế và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, đồng thời làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng”. Năm 1928 được coi là mốc quan trọng đầu tiên đánh dấu cho công cuộc tìm kiếm thuốc kháng sinh khi Alexander Fleming (1881-1955) phát hiện ra penicillin [72, 75]. Tuy nhiên, hơn 60 năm sau khi phát hiện và gần 50 năm sau khi penicillin được đưa vào sản xuất ở quy mô công nghiệp, trên thế giới đã xuất hiện hơn 95% chủng Staphylococcus aureus kháng lại penicillin và 60% kháng lại dạng dẫn xuất của nó là methicillin [7].
Ngày nay, vi khuẩn không chỉ kháng lại penicillin mà còn kháng nhiều loại kháng sinh khác và trở thành mối đe dọa thực sự đối với sức khoẻ nhân loại. Theo thống kê năm 2006 của WHO, 5 vi khuẩn có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất hiện nay là Klebsiella (15. Nhóm thuốc cephalosporin thế hệ thứ tư có tỷ lệ kháng cao đặc biệt từ 66-83%, tiếp theo là nhóm kháng sinh aminosid và fluoroquinolon có tỷ lệ kháng xấp xỉ trên 60%. Báo cáo của WHO cho biết, số quốc gia có bệnh lao kháng thuốc tăng từ 58 trong năm 2010 lên 69 trong năm 2011.
Mỗi năm, thế giới Ngô Thị Hà 11 K18 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2009-2011 có khoảng 440,000 ca mới nhiễm lao đa kháng thuốc, ít nhất 150,000 ca tử vong vì loại vi khuẩn này [79]. Tính riêng ở các nước thuộc liên minh châu Âu EU thì cứ mỗi năm có khoảng 25,000 người chết vì các loài vi khuẩn đa kháng thuốc [80]. Các kháng sinh thế hệ mới đắt tiền, thậm chí cả một số kháng sinh thuộc nhóm “lựa chọn cuối cùng” cũng đang mất dần hiệu lực [1]. Bằng chứng mới đây nhất là sự lây lan của chủng vi khuẩn kháng carbapenem (NDM-1) ở một số nước châu Âu và châu Á.
Loại “siêu vi khuẩn kháng thuốc” này tiết ra enzyme NDM-1 có thể kháng lại hầu hết mọi loại thuốc kháng sinh, kể cả nhóm kháng sinh mạnh nhất là carbapenem [7, 79]. Các nhà khoa học lo ngại “siêu vi khuẩn” có thể lan ra khắp thế giới, đồng thời khẳng định trong tương lai gần chưa có loại thuốc nào có khả năng tiêu diệt được. Kháng kháng sinh không chỉ ảnh hưởng tới lĩnh vực y tế mà nó còn tác động sâu sắc đến nền kinh tế. Theo ước tính của WHO, ở Mỹ mỗi năm chi phí y tế cho thuốc điều trị nhiễm khuẩn xấp xỉ 20 tỉ $; còn với khối EU là 1.
Vì vậy, kháng kháng sinh giờ đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Hiện nay, tình hình kháng kháng sinh ở Việt Nam cũng diễn biến hết sức phức tạp. Theo báo cáo của Bộ Y tế trong năm 2008 thì nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ tử vong cao thứ hai (16.7%) chỉ sau bệnh về tim mạch (18. Báo cáo kết quả nghiên cứu ở 19 bệnh viện ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng trong hai năm (2009-2010) về tình trạng kháng kháng sinh cho thấy, có 4 chủng vi khuẩn kháng kháng sinh thường gặp là Acinetobacter spp, Pseudomonas spp, E.
coli và Klebsiella. Hầu hết các kháng sinh thông thường như: penicillin, tetracycline, streptomycine, … đã bị kháng. Theo báo cáo “Phân tích thực trạng: sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở Việt Nam” do nhóm nghiên cứu Quốc gia của Việt Nam thuộc tổ chức hiệp hội kháng kháng sinh toàn cầu (GARP, Global Antibiotic Resistance Partnership) vào tháng 10 năm 2010 thì tình trạng kháng kháng sinh ở nước ta đáng báo động [1]. Bằng chứng là tỷ lệ chủng Streptococcus pneumoniae, một trong những nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn hô hấp, kháng penicillin là 71.4%, kháng erythromycin là 92.
Ngô Thị Hà 12 K18 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2009-2011 Đây là tỉ lệ kháng cao nhất trong số 11 nước trong mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc Châu Á (ANSORP) năm 2000-2001. Năm 2009 tỷ lệ các ch ủng vi khuẩn Gram âm kháng với ceftazidime là 42%, kháng với gentamicin là 63% và kháng với axit nalidixic là 74% ở cả bệnh viện và trong cộng đồng. Xu hướng gia tăng của tình trạng kháng kháng sinh cũng thể hiện rõ rệt. Những năm 1990, tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có 8% các chủng pneumococcus kháng với penicillin.
Đến năm 1999-2000, tỉ lệ này đã tăng lên 56% [1]. Chính vì tình trạng kháng kháng sinh ngày càng có xu hướng tăng lên như vậy mà Việt Nam đã bị WHO xếp vào nhóm nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới (WHO, 2008). Thực trạng phức tạp này không chỉ đặt ra cho ngành y tế Việt Nam nhiều thách thức mà còn đòi hỏi cả xã hội phải cùng nhau hành động để có thể làm giảm bớt tình trạng kháng kháng sinh. Nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng kháng kháng sinh Để hiểu rõ căn nguyên của tình trạng kháng kháng sinh, báo cáo của WHO trong ngày sức khỏe thế giới 7/4/2011 đã tổng kết 6 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh cao như sau [79]: Thứ nhất, kháng thuốc là một hiện tượng tiến hóa tự nhiên.
Khi vi sinh vật tiếp xúc với các chất có khả năng tiêu diệt chúng, những vi sinh vật “may mắn” sống sót sẽ tự tạo ra những cơ chế tự vệ tránh được tác dụng của các chất này. Từ đó các thế hệ vi sinh vật kháng thuốc được hình thành. Không những thế, gen kháng thuốc có thể được truyền ngang từ cá thể này sang cá thể khác nên vi sinh vật kháng thuốc ngày càng nhiều. Nguyên nhân này là quy luật tự nhiên nên khó có giải pháp ngăn chặn.
Tuy nhiên, 4 nguyên nhân tiếp theo lại xuất phát chủ yếu từ phía con người. Đó chính là: sử dụng thuốc không hợp lý; chất lượng thuốc kém; công tác phòng ngừa, kiểm soát bệnh lây Ngô Thị Hà 13 K18 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2009-2011 truyền yếu và thiếu hệ thống giám sát. Chính những nguyên nhân này thúc đẩy nguyên nhân đầu tiên diễn ra nhanh hơn và góp phần không nhỏ dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh hiện nay. Vì vậy, muốn tình trạng kháng kháng sinh giảm xuống thì chính chúng ta phải có những hành động tích cực ngay ngày hôm nay.
Nguyên nhân cuối cùng dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh ngày càng trầm trọng chính là các công cụ mới chống lại sự kháng thuốc ngày càng cạn kiệt. Các loại thuốc kháng sinh đang mất dần tác dụng. Trong khi đó, sự phát triển các loại kháng sinh thế hệ mới ngày càng thu hẹp. Lịch sử phát hiện thuốc kháng sinh.
Nhìn vào Hình 1 chúng ta thấy hàng loạt các thuốc kháng sinh được tìm ra chủ yếu trong khoảng từ năm 1940 đến năm 1970. Có thể nói đây là thời đại hoàng kim của thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, từ những năm 1980 trở lại đây số lượng thuốc kháng sinh mới rất hiếm. Điều này đặt ra mối lo ngại có phải nguồn kháng sinh đã cạn kiệt? Thêm vào đó nếu tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng như hiện nay thì liệu rằng những thế hệ tương lai sẽ còn Ngô Thị Hà 14 K18 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2009-2011 được hưởng những lợi ích mà kháng sinh mang lại?