Chương 1 - Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2 - Tổng quan tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng thương mại Chương 3 - Thực trạng rủi ro tín dụng và tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Chương 4 - Phương pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu Chương 5 - Kết luận và giải pháp hạn chế tác động của rủi ro tín dụng nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các NHTM CP Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Các nhà kinh tế học đã định nghĩa rủi ro theo nhiều cách khác nhau. Frank Knight (1921) định nghĩa “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”. Alain Willet (1901) cho rằng “rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến biến cố không mong đợi”.
Còn một ý kiến khác lại cho rằng: “rủi ro là các sự kiện trong tương lai không chắc chắn mà có thể ảnh hưởng đến mục tiêu, chiến lược, hoạt động và tài chính của tổ chức” (International Federation of Accountants, 1999). Như vậy, các định nghĩa tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một nội dung coi rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được. Kết hợp với lĩnh vực hoạt động của ngân hàng, rủi ro tín dụng được trình bày qua các định nghĩa. Theo World Bank, rủi ro tín dụng là “Nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng (C.Carlos Mendoza, 2005); Còn theo Timothy W.
Từ các quan điểm trên, rủi ro tín dụng là khả năng gây tổn thất cho ngân hàng phát sinh khi bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng, bao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 gồm cả việc không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi đến hạn.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và có thể phân chia chúng thành ba nhóm nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng Chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo: Định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường là lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận đươc, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, theo phong trào, theo khẩu hiệu phát triển kinh tế, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị trường ở các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà không hề nhận thấy rằng ngân hàng mình không có sở trường trong lĩnh vực này hoặc chưa chuẩn bị đủ tiềm lực đối với ngành hàng này. Kỹ thuật cấp tín dụng còn nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng như việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp. Công tác quản lý rủi ro tín dụng và kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng, chỉ mang tính hình thức. Thiếu thông tin: Ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về khách hàng một cách đầy đủ, chưa có các kênh kiểm tra chéo thông tin.
Việc phân tích tín dụng và quyết định cho vay hầu như chỉ dựa trên các thông tin từ phía khách hàng cung cấp, các mối quan hệ cá nhân. Chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác tín dụng chưa cao: Đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên môn, không đủ khả năng thẩm định phương án vay vốn của khách hàng cũng như thiếu kinh nghiệm phát hiện các những điều bất thường trong phương án của khách hàng và không đủ khả năng nhận biết tình hình kinh tế xã hội tác động như thế nào đến lĩnh vực kinh doanh của khách hàng. Điều này dẫn đến việc đưa ra các quyết định cho vay không đúng. Ngoài ra, có những cán bộ tín dụng đứng trước cám dỗ của đồng tiền, đã thông đồng với khách hàng để chiếm đoạt tiền của ngân hàng.
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Khách hàng là cá nhân: Do các nguyên nhân bất ngờ xảy ra như: mất việc, tai nạn hoặc xảy ra biến cố trong cuộc sống dẫn đến nguồn hoàn trả nợ chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm. Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp: Do việc quản lý dòng vốn kinh doanh không hợp lý, kinh doanh liên tục thua lỗ, hàng hóa không tiêu thụ được dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả, thất thoát, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng. Sử dụng vốn vay sai mục đích: Khách hàng cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lí do ngân hàng không phát hiện được, để lấy vốn vay sử dụng khác với mục đích đã trình bày trong phương án vay vốn. Việc sử dụng vốn vay sai mục đích trong nhiều trường hợp là do người vay sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm với kỳ vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao, tuy nhiên kết quả lại không như ý muốn.
Cũng có trường hợp khách hàng đã không có khả năng trả nợ vay tại ngân hàng khác, và cố tình tìm mọi cách vay vốn tại ngân hàng này và mang đi đảo nợ là nguyên nhân dẫn đến khách hàng không có nguồn trả nợ để thanh toán nợ đúng hạn và đầy đủ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, còn có thể kể đến một số nguyên nhân khác như: khách hàng không thiện chí trong việc trả nợ; lừa đảo chiếm dụng vốn thông qua việc thành lập các công ty ma, các phương án kinh doanh sản xuất giả, các giấy tờ thế chấp cầm cố giả mạo,… Nhóm nguyên nhân khách quan Môi trường kinh tế: Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay và làm cho quá trình trả nợ không được diễn ra theo dự định ban đầu. Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế cũng dẫn đến những hệ quả tất yếu làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 xấu tăng lên do khách hàng có tiềm lực tài chính lớn đã bị các ngân hàng nước ngòai thu hút bằng các sản phẩm, dịch vụ mới với nhiều tiện ích hơn.
Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh: Đây là những rủi ro mà cả khách hàng lẫn ngân hàng đều không lường trước đối với khoản tín dụng, khách hàng gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng. Đối với khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh thì cũng phải có thời gian để ổn định lại quá trình kinh doanh thì mới có khả năng trả nợ ngân hàng, còn với các khách hàng có tiềm lực yếu thì khoản tín dụng có khả năng rất cao lâm vào tình trạng nợ xấu. Mặc dù loại rủi ro này có thể được hạn chế bằng cách mua bảo hiểm, tuy nhiên khi lọai rủi ro này xảy ra, khách hàng và cả ngân hàng cũng phải mất nhiều thời gian để lấy được khoản tiền bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng. Như vậy có thể thấy các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng vô cùng đa dạng.
Nhưng dù là nguyên nhân chủ quan hay khách quan, từ phía ngân hàng hay phía khách hàng thì chung quy đều dẫn đến cùng một hậu quả là việc khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết, gây các khoản nợ khó đòi cho ngân hàng. Trong thực tế, khi không thu hồi được các khoản nợ của khách hàng sẽ làm cho vòng quay vốn của ngân hàng bị mất cân đối, ngân hàng mất dần khả năng thanh toán cho các khoản tiền gửi huy động. Lúc này, rủi ro tín dụng đã gián tiếp gây nên rủi ro thanh khoản, dễ dẫn đến sự sụp đổ của một ngân hàng, thậm chí là cả toàn hệ thống, gây ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, thậm chí là nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Chính việc xem xét và phân định rõ ràng các nguyên nhân này sẽ phần nào giúp các ngân hàng tìm ra những biện pháp thích hợp để phòng ngừa, hạn chế tác động của rủi ro tín dụng.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng Vì ngân hàng kinh doanh trên đồng vốn của khách hàng nên đảm bảo an toàn cho đồng vốn là vấn đề sống còn của bất cứ ngân hàng nào (Gup, Avram, Beal, Lambert and Kolari, 2007).
Hình thái biểu hiện dễ nhận biết nhất của rủi ro tín dụng là các khoản nợ quá hạn. Do rủi ro tín dụng không thể bị triệt tiêu nên nợ quá hạn là không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thể bị loại trừ. Vấn đề trở nên nghiêm trọng khi tỷ lệ nợ quá hạn (tổng nợ quá hạn trên tổng dư nợ tín dụng) vượt ngưỡng cho phép. Khi khách hàng trì hoãn việc trả nợ, dòng vốn ngân hàng bị trì trệ, đồng thời còn làm tăng thêm các chi phí như: chi phí quản lý, trích lập dự phòng rủi ro, giám sát, thu nợ… cao hơn nhiều so với khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất nợ quá hạn.
Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền gửi huy động dù không thu được đầy đủ vốn gốc và lãi của các khoản mình cho vay. Do đó chẳng những một khoản tiền lãi không được sinh thêm mà phần vốn còn bị thâm hụt, làm cho lợi nhuận, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị giảm đáng kể. Trong thực tế, khi không thu hồi được các khoản nợ của khách hàng sẽ làm cho vòng quay vốn của ngân hàng bị mất cân đối, ngân hàng mất dần khả năng thanh toán cho các khoản tiền gửi huy động. Lúc này, rủi ro tín dụng đã gián tiếp gây nên rủi ro thanh khoản, dễ dẫn đến sự sụp đổ của một ngân hàng, thậm chí là cả toàn hệ thống.