Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của NHTM Chương 3: Thực trạng tình hình hoạt động của các NHTMCP Việt Nam 2008 - 2015 Chương 4: Mô hình kiểm định tác động của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP Chương 5: Giải pháp và kiến nghị hạn chế rủi ro thanh khoản và nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTMCP Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 2.1 Thanh khoản của Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm thanh khoản Có nhiều định nghĩa khác nhau về thanh khoản, có thể hiểu thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh (Trần Huy Hoàng, 2011). Theo định nghĩa của Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng: thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tài trợ tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức (Basel, 2008). Theo Trương Quang Thông (2010), một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi tài sản ấy thành tiền mặt thấp và thời gian chuyển đổi nhanh.
Tương tự, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp cùng với thời gian huy động nhanh. Do đó, dựa trên cách tiếp cận cả về tài sản và nguồn vốn tác giả định nghĩa: “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng”. Tóm lại, thanh khoản nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn. Tính thanh khoản có sự khác biệt với khả năng thanh toán của NHTM ở tính chất thời điểm.
Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải các khoản chi phí, nhưng nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Như vậy, ngân hàng có thể mất thanh khoản trong khi vẫn có khả năng thanh toán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của thanh khoản đối với Ngân hàng thương mại Ngân hàng gặp nhiều tình huống có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản. Chủ yếu do một lượng lớn người gửi tiền rút các khoản tiết kiệm cùng một lúc, có thể dẫn đến việc ngân hàng phải bán tháo tài sản với chi phí cao để trả tiền cho nhà đầu tư – nếu họ không còn lựa chọn nào khác, điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng đang gặp phải khó khăn thanh khoản.
Nếu rủi ro thanh khoản không được ngăn chặn kịp thời có thể làm cho ngân hàng vỡ nợ. Sự thất bại của ngân hàng có thể là nguồn gốc gây nên bất ổn tài chính do hiệu ứng lan tỏa của hệ thống ngân hàng, làm mất niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải đảm bảo tính thanh khoản để không những đáp ứng nhu cầu của các khoản vay mới mà không cần phải thu hồi các khoản vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn mà còn đáp ứng các biến động hàng ngày hay mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời. Đồng thời đảm bảo lòng tin từ người gửi tiền.
Thanh khoản kém hay chất lượng tài sản kém là yếu tố tạo nên những sự đổ vỡ của ngân hàng thương mại.2 Rủi ro thanh khoản 2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) định nghĩa như sau: “Rủi ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng sự suy giảm trong khoản phải trả hay tài trợ cho việc gia tăng trong tài sản. Khi một ngân hàng thiếu thanh khoản, nó không thể có đủ tiền bằng cách huy động vốn hoặc chuyển đổi các tài sản kịp thời, ở chi phí hợp lý, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận”. “Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá trị thấp” (Nguyễn Văn Tiến, 2010). “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán” (Trần Huy Hoàng, 2011).
“Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi thành tiền, hoặc không có khả năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó” (Trương Quang Thông, 2010). Đây là loại rủi ro đặc trưng trong hoạt động của ngân hàng và rủi ro này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh cũng như lợi nhuận của ngân hàng.2 Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Valla và Escorbiac (2006) cho rằng rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng cân đối tài sản của NHTM.Rose (2001) thì rủi ro thanh khoản xuất phát từ những nguyên nhân sau: Ngân hàng huy động lượng lớn tiền gửi và dự trữ ngắn hạn từ cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức cho vay khác và sau đó chuyển chúng thành các khoản tín dụng dài cho những người đi vay. Do vậy, xảy ra tình trạng mất cân bằng giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của các nguồn vốn. Dòng tiền thu hồi từ các khoản đầu tư không đủ để chi trả cho các khoản tiền gửi đến hạn.
Nguyên nhân khác nữa là sự nhạy cảm của ngân hàng trước những thay đổi của lãi suất. Khi lãi suất đầu tư tăng, người gửi tiền có xu hướng rút vốn của họ khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Đồng thời, người vay tiền có xu hướng tăng cường tiếp cận với các khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp vì lãi suất thấp hơn các nguồn vốn bên ngoài thị trường. Như vậy những thay đổi trong lãi suất tác động đồng thời cả nhu cầu người gửi tiền và nhu cầu vay vốn và cả hai đều gây ra tác động rất lớn tới trạng thái thanh khoản của ngân hàng.
Bên cạnh việc ảnh hưởng đến xu hướng hành động của người gửi tiền, người vay tiền, lãi suất đầu tư còn ảnh hưởng đến giá thị trường của các tài sản mà ngân hàng có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 thể bán để tăng cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay vốn trên thị trường tiền tệ. Chiến lược quản trị thanh khoản của ngân hàng không phù hợp và kém hiệu quả. Chẳng hạn như việc ngân hàng nắm giữ các chứng khoán có tính thanh khoản thấp, nhu cầu chi trả vượt mức dự trữ của ngân hàng.3 Đo lường rủi ro thanh khoản 2.1 Đo lường rủi ro thanh khoản thông qua cung cầu thanh khoản Theo Trần Huy Hoàng (2011), các ngân hàng thương mại đánh giá rủi ro thanh khoản thông qua trạng thái thanh khoản ròng NLP (net liquidity position). NLP = tổng cung thanh khoản – tổng cầu thanh khoản Trong đó, cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, bao gồm các khoản tiền gửi sẽ nhận được từ khách hàng (huy động vốn tiền gửi – nguồn cung thanh khoản chủ yếu), doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ, thu hồi các khoản tín dụng đã cấp, bán các tài sản đang kinh doanh và đã sử dụng hay vay mượn trên thị trường tiền tệ và phát hành các giấy tờ có giá.
Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng, bao gồm các khoản tiền gửi mà khách hàng rút, các khoản cấp tín dụng cho khách hàng hay hoàn trả các khoản vay và trả lãi. Ngoài ra, cầu thanh khoản còn có chi phí quản lý, chi phí dịch vụ và các khoản mua lại các giấy tờ có giá, chi trả cổ tức. Nếu NLP = 0: trạng thái thanh khoản cân bằng. Trường hợp này khó có thể xảy ra trong thực tế.
Nếu NLP >0: thặng dư thanh khoản. Xảy ra khi ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, sử dụng vốn không hiệu quả và thiếu khả năng tiếp cận thị trường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Nếu NLP <0: thiếu hụt thanh khoản. Xảy ra khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, làm cho các khoản vốn của ngân hàng không đáp ứng đủ cho nhu cầu vốn của khách hàng và thị trường, chẳng hạn nhu cầu rút tiền gửi tiết kiệm, giải ngân cho khách hàng,… Từ đó đánh mất cơ hội đầu tư mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Tóm lại, thặng dư thanh khoản hay thiếu hụt thanh khoản đều diễn tả tình trạng mất cân bằng của ngân hàng.2 Đo lường rủi ro thanh khoản bằng phương pháp khe hở tài trợ Theo Peter S.Rose (2001), trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, phần lớn tài sản sẽ được tài trợ bởi các khoản tiền ký thác trong đó đa phần là các khoản tiền gửi vãng lai có thể bị rút ra bất cứ lúc nào, tạo ra khe hở thanh khoản cho ngân hàng, từ đó tạo ra rủi ro thanh khoản. Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình – Tổng nguồn vốn huy động trung bình Theo Đặng Văn Dân (2015), phương pháp khe hở tài trợ là phương pháp thích hợp nhất trong phân tích định lượng, chỉ số khe hở tài trợ phản ánh được cơ bản nhất về khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khe hở tài trợ thể hiện dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. Nếu khe hở tài trợ là dương và ngân hàng có khe hở tài trợ lớn, nghĩa là trung bình các khoản cho vay lớn hơn tiền gửi trung bình, khi đó sẽ buộc ngân hàng phải giảm tiền mặt dự trữ và giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ để bù đắp thanh khoản, dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng tăng cao.