Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG: 1. Cấu trúc thị trường: 1. Khái niệm: Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (1998) định nghĩa “cấu trúc” là tổng hòa các mối quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một hệ thống.
Theo lý thuyết Kinh tế học: “cấu trúc thị trường” được đặc trưng bởi số lượng người bán, số lượng người mua, mối quan hệ tương tác giữa người mua, người bán, quy mô của thị trường, mức độ khác biệt hóa sản phẩm (chủng loại, giá cả), có hay không sự tồn tại các rào cản gia nhập thị trường đối với các đối thủ tiềm năng, sự hiện diện của các hình thái liên kết dọc, liên kết ngang (David Begg (2007)). Cấu trúc thị trường có thể xem xét dưới góc độ người mua hoặc người bán. Dưới góc độ người mua, một thị trường có thể thuộc về một cấu trúc này, song dưới góc độ người bán nó lại có thể thuộc về một loại cấu trúc thị trường khác. Khi đề cập đến cấu trúc thị trường, các nhà nghiên cứu thường tiếp cận dưới góc độ người bán.
Ở góc độ người bán, cấu trúc thị trường có hai dạng cơ bản: thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền. Sự khác biệt cơ bản giữa hai thị trường này thể hiện ở mức độ tập trung và sự tồn tại hay không tồn tại rào cản gia nhập thị trường. Cấu trúc thị trường tác động đến cạnh tranh và mức độ tác động tùy thuộc vào mức độ tập trung của thị trường. Các nhân tố cấu trúc thị trường: Khái niệm cấu trúc thị trường đã thể hiện nội hàm của nó gồm các nhân tố cơ bản như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Quy mô thị trường: Quy mô thị trường thường đo lường bằng số lượng chủ thể tham gia (số lượng người mua, người bán), số lượng hàng hóa và doanh số mua, bán trên thị trường.
Trong lĩnh vực ngân hàng, quy mô thị trường được đo lường bằng số lượng ngân hàng, số lượng khách hàng (thể hiện bằng số tài khoản giao dịch), tổng tài sản “có”, tổng tiền gửi, tổng dư nợ cho vay, doanh số các hoạt động dịch vụ khác (doanh số thanh toán qua ngân hàng, doanh số mua, bán ngoại tệ…). - Danh mục và giá cả sản phẩm: Danh mục sản phẩm thể hiện tính đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường và có xu hướng ngày càng tăng. Giá cả phản ảnh quan hệ cung - cầu trên thị trường và mang nhiều tên gọi khác nhau. Cũng như các thị trường hàng hóa khác, danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng.
Trong chiến lược cạnh tranh, mỗi ngân hàng luôn tìm cách tạo ra sự khác biệt sản phẩm của mình, làm nên sự phong phú sản phẩm trên thị trường. Giá cả sản phẩm dịch vụ ngân hàng có hai tên gọi chủ yếu: Lãi suất (lãi suất huy động tiền gửi, lãi suất cho vay) và các loại phí (phí dịch vụ chuyển tiền, phí bảo lãnh, phí hạn mức tín dụng …. - Rào cản gia nhập thị trường: Sự tồn tại hay không tồn tại rào cản gia nhập thị trường do sự phát triển tự nhiên của thị trường (tính tối thiểu về qui mô của ngành nghề quyết định) hoặc sự can thiệp của nhà nước và được thể hiện qua mức độ tập trung của thị trường. Để đo lường mức độ tập trung của thị trường, đại lượng được sử dụng phổ biến là hệ số tập trung (Concentration Ratio – CR) hoặc chỉ số Herfindahl-Hirschman (H-H index) + Chỉ số CR xác định thị phần của m doanh nghiệp lớn nhất (công thức 1.,m doanh nghiệp lớn của thị trường sắp xếp theo thứ tự qui mô giảm dần; m thường là 4,8,15,20.
S i là thị phần của doanh nghiệp i TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 + Chỉ số H-H là tổng bình phương các thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong ngành (công thức 1.2) i =1 Với: i = 1,……,n doanh nghiệp trên thị trường. S i là thị phần của doanh nghiệp i Giá trị của H-H nằm trong khỏang [0,1], H-H càng nhỏ (Æ0) khi thị trường càng kém tập trung. Theo nhóm tư vấn Thierry Apoteker Consultant (TAC), chỉ số H-H cao hơn 0,18 sẽ thể hiện một thị trường rất tập trung, trong khi đó, nếu H-H nhỏ hơn 0,1 thì thị trường sẽ khá phân tán. Chỉ số tập trung CR thường được tính tóan khá dễ dàng, nhưng việc chọn m doanh nghiệp còn phụ thuộc vào kinh nghiệm, khả năng dự đoán.
Chỉ số H-H đựợc tính tóan dựa trên tất cả các doanh nghiệp của ngành được xem xét. Hai chỉ số trên lại tương quan với nhau, do đó, việc lựa chọn 1 trong 2 chỉ số đó để nghiên cứu đều không làm thay đổi lớn kết quả nghiên cứu. Rào cản gia nhập thị trường có tác động đến lợi nhuận và giữ một vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt về lợi nhuận. Nếu không có những rào cản gia nhập thị trường, một thị trường rất tập trung khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng chiến lược giá cao sẽ thu hút các đối thủ cạnh tranh mới nhảy vào làm giảm bớt lợi nhuận độc quyền của các doanh nghiệp có trước.
Nếu các doanh nghiệp được bảo hộ bằng các rào cản gia nhập thị trường có thể lợi dụng mức lợi tức cao mà không cần thị trường phải rất tập trung. - Các hình thái liên kết: Sự liên kết giữa các chủ thể thị trường được hình thành và vận hành trong cơ cấu tổ chức thống nhất hoặc thông qua các mối quan hệ trên thị trường. Các liên kết dọc được thiết lập chủ yếu do cơ cấu tổ chức qui định, còn các liên kết ngang có thể hình thành do sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường hoặc sự tác động, điều tiết của nhà nước bằng pháp luật hoặc công cụ quản lý kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc thị trường ngân hàng: Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính (financial services), là một hệ thống cấu thành của loại hình dịch vụ mang tính chất thương mại. Nói cách khác, đây là loại dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường. Vì vậy, thị trường ngân hàng cũng có đặc trưng cấu trúc thị trường như các thị trường dịch vụ khác dưới hình thức phù hợp lĩnh vực kinh doanh ngân hàng.Reed và Edward K.Gill (2004) cho rằng: cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) được xác định dựa trên hai yếu tố cơ bản: kinh tế và pháp luật. Giống như bất cứ thị trường nào khác, nhu cầu đối với sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến số lượng người bán hàng và danh mục sản phẩm, cũng như sự lớn mạnh của thị trường ngân hàng.
Thêm vào đó, các quy định của chính phủ cũng có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc ngân hàng: các quy định giới hạn sự thành lập các ngân hàng mới, các quy định ảnh hưởng đến cơ cấu nghiệp vụ ngân hàng qua đó sẽ tác động lên cấu trúc thị trường ngân hàng. Kết quả của một số cuộc điều tra về dịch vụ ngân hàng cho thấy các ngân hàng đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong chức năng hoạt động và hình thức. Thực tế những thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng làm cho các thế hệ ngân hàng tiếp theo sẽ khác rất nhiều so với các ngân hàng ngày nay.Rose (2001), các nhân tố ngày nay làm thay đổi cấu trúc thị trường ngân hàng trên toàn cầu là: - Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác và sự hiểu biết, đòi hỏi cao hơn của khách hàng, cùng với sự phát triển công nghệ, quá trình mở rộng danh mục dịch vụ ngân hàng đã tăng tốc trong những năm gần đây.
Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến hoạt động ngân hàng thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng từ các khoản lệ phí của dịch vụ ngoài lãi cho vay và có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay, nhưng đồng thời cũng làm tăng chi phí ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Các ngân hàng trong nước cung cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán, nhận tiền gửi cho doanh nghiệp, cá nhân.
Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các ngân hàng khác và các định chế tài chính phi ngân hàng. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng cũng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định, giảm bớt kiểm soát của chính phủ; chi phí và rủi ro tổn thất theo đó cũng tăng lên. Anh, Nhật Bản, Canada, Australia là những quốc gia đi đầu tham gia trào lưu nới rộng giới hạn pháp lý cho ngân hàng.
- Sự gia tăng chi phí vốn. Sự nới lỏng luật lệ kết hợp sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Các ngân hàng buộc phải trả lãi suất cao hơn cho tiền gửi do thị trường cạnh tranh quyết định. Bên cạnh đó, chính phủ các nước yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn để tài trợ cho các tài sản của mình.
- Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Các qui định của chính phủ tạo cho khách hàng nhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi. Trong môi trường cạnh tranh, các ngân hàng đã có chính sách “thông thoáng” hơn đối với khách hàng gửi tiền. Cả hai vấn đề trên cũng có nghĩa các ngân hàng phải đối mặt với tài sản nhạy cảm hơn với lãi suất.
Vì vậy, các ngân hàng phải tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và phải nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm. - Cách mạng trong công nghệ ngân hàng.