Chương 1 - Cơ sở lý luận về Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Chương 2 - Thực trạng hoạt động Quản trị rủi ro tin dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) — Chỉ nhánh Kontum. Chương 3 - Hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tin dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) — Chỉ nhánh Kontum. Tổng quan Liên quan đến nội dung quản trị rủi ro tín dụng, về mặt cơ sở lý luận có rat nhiều sách, giáo trình làm nền tảng nghiên cứu, về mặt thực tiễn có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên sách, báo, nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay. doanh nghiêp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hay những nghiên cứu về giải pháp kiểm soát, hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại.
'VỀ mặt cơ sở lý luận, trong chương VI sách “Quan trị ngân hàng thương. mại hiện đại” tái bản là thứ nhât năm 2011, tác giả PGS. Nguyễn Dang Dờn xây dựng khá chỉ tiết về khái niệm, phân loại, phương pháp lượng hóa, đánh giá rủi ro tín dụng, cũng như các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại. Tài liệu “#i ro trong tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ” Đại học kinh tế quốc dân (2010) đề cập đến các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, các dấu hiện nhận biết rủi ro.
tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Sách Quản trị Ngân hàng thương mại, Peter S.Rose đề cập đến các công cụ đo lường rủi ro tín dụng, các biện pháp tài trợ rủi ro như chứng khoán hóa các khoản vay, bán nợ, thư bảo lãnh tín dụng, và các công cụ tín dụng phái sinh như hợp đồng trao đôi tín dụng, hợp đồng quyền tín dụng, hợp đồng trao đôi các khoản tin dụng rủi ro, Các công trình khoa học nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng như: Giải pháp năng cao chất lượng quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Vietcombank Huế, của nhóm tác giả Hoàng Văn Hoa, Tôn Thị Nga,Tạp chí KHCN - Đại học Đà Nẵng số 4(33), 2009. Nhóm tác giả tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro trong hoạt động tin dung tại Vietcombank Huế, đưa ra giải pháp kiến nghị đôi mới mô hình tô chức và quy trình cho vay theo khối bán buôn và bán lẻ. Đây là mô hình mà đa số các Ngân hàng thương.
mại hiện nay đang hướng đến. Ưu điểm của mô hình này là phân loại nhóm đối tượng khách hàng để có quy trình quản lý rủi ro hiệu quả hơn cho từng. nhóm đối tượng. “Mô hình quản lý rúi ro tín dụng của Ciibank” của tác giả ThS.
Lê Thị Huyền Diệu đăng trên Tạp chí ngân hàng số 18, tháng 8 năm 2007. Tác giả bài viết đã trình bày khá chỉ tiết về mô hình quản lý rủi ro tín dụng của Citbank - một ngân hàng thuộc tập đoàn hàng đầu thể giới không chỉ về quy. mô mà còn là đối thủ có sức mạnh trên thương trường nhờ chính sách quản lý rủi ro của tập đoàn. Quy trình quản lý rủi ro tín dung cua Citibank bao gồm 3 giai đoạn: (1) Hình thành chiến lược và kế hoạch cho vay; (2) tiến hành cho vay khách hàng; (3) đánh giá và báo cáo thực thi.
Trong giai đoạn 1: Citibank chú trọng đến ba vấn đề cơ bản là hình thành chiến lược kinh doanh, phân tích. thị trường mục tiêu và xây dựng các tiêu chí châp nhận rủi ro. Citibank dat ra mục tiêu trong quá trình hoạt động tín dụng của mình là xây dựng mối quan hệ vững mạnh đối với khách hàng và đa dạng hóa danh mục đầu tư. Ngân hàng sẽ tập trung vào những ngành mà ở đó, ngân hàng xây dựng một thị phần tín dụng vững chắc.
Chiến lược hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ bắt đầu bằng những đánh giá những yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng. Ngoài ra, hệ thống xếp loại khách hàng theo 10 câp từ 1 đến 10 cũng là công. cụ quan trong trong quản lý rủi ro tín dung cua Citibank. M6 hinh quan trị rủi ro của Ciibank được tác giá nêu khá chỉ tiết và khoa học.
Các bước của mô. hình này có thể giúp vận dụng và bô sung đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, về vân đề Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - Chỉ nhánh Kontum chưa có tác giả nào nghiên cứu. Đó là lý do đề tác giả chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP.
Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - Chỉ nhánh Kontum” làm định hướng nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUAN TRI RUI RO TRONG HOAT DONG CHO VAY CUA NGAN HANG 1. RUI RO VA QUAN TRI RUI RO TRONG HOAT DONG CHO VAY CUA NGAN HANG 1. Khái niệm cho vay *Cho vay là một hình thức cấp tín dung, theo dé tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
Khi tìm hiểu bảng tổng kết tài sản của các NHTM, chúng ta thấy rằng cho vay luôn là khoản mục chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng tai sản của ngân hàng và là khoản mục đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Theo mục 2- Điều 3- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về qui chế cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng, ta có định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cắp tín dụng, theo đỗ tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tién dé sử dụng vào mục dich và thời hạn nhắt định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cá góc và lãi”. Trong nên kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay.
Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được. dịch chuyền từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng hay nói cách khác là cho vay.
Rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Khai niệm rải ro trong hoạt động cho vay Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Khi ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay cụ thể thì trong hoạt động đó luôn hàm chứa rủi ro tiềm ẩn, rủi ro này nó sẽ làm giảm khoản thu nhập của ngân hàng. Do đó trong hoạt động quản lý toàn bộ ngân hàng luôn xác định một tỷ lệ tôn thất dự kiến nhằm hạn chế mức tối thiểu các thiệt hại về tài sản do các rủi ro cho vay gây ra.
Phân loại rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. “Theo khái niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay thì rủi ro trong hoạt động cho vay được chia thành các hình thức sau: ~ Không thu được lãi đúng hạn Lúc này ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp. ~ Không thu được vốn đúng hạn Khi không thu được vốn đúng hạn thì tình hình sử dụng vốn bị ảnh hưởng và ảnh hưởng tới tính thanh khoản của tài sản.
Hình thức này gây rủi ro lớn trong nhiệm vụ đảm bảo thanh khoản và tình hình sinh lời của tài sản ~ Không thu đủ lãi Khi ngân hàng không thu được đủ lãi thì tỉnh hình đã trở nên nghiêm trọng. Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã gặp khó khăn không. hiệu quả trong việc sử dụng vốn. Lúc này ngân hàng cần có những biện pháp.
hỗ trợ khách hàng như giảm lãi, tư vấn cho khách hàng hoặc có thể cung cấp thêm những khoản tín dụng cần thiết cho khách hàng nếu dự án đang đầu tư là kha thi ~ Không thu đủ vốn cho vay Khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay tại thời điểm này, ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ. “Trên đây là bốn hình thức rủi ro cho vay có thể xảy ra đối với các ngân hàng. Qua nghiên cứu để nhận biết và các biện pháp xử lý rủi ro một cách có hiệu quả nhất. Quản trị rúi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng Quản trị rủi ro trong hoạtđộng cho vay được hiểu là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tổ rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng.
Đối với các NH, quản trị RRTCV (Rủi ro trong cho vay) thực sự cần thiết, bởi vì: Thứ nhất. RRTCV là một trong những vấn đề mà tắt cả các NH phải đương đầu. Phòng ngừa hạn chế RRTCV là vấn đề khó khăn phức tạp, bởi lẽ RRTCV mang tinh tit yếu khách quan, luôn gắn liền với hoạt động tín dụng, đồng thời lại rất đa dạng phức tạp, RRTCV thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng. Thứ hai: Nếu như hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTCV được thực hiện tốt thì sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như: (1) giảm chỉ phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho NH; (2) tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; (3) tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng.
Thứ ba: Hoạt động phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế. Trong thời đại nền kinh tế như hiện nay, các định chế tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu như một NH gặp van dé thi ngay lập tức sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác. Vì vậy, quản trị RRTCV đem lại sự an toàn, Ôn định cho thị trường.