Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chỉ nhánh tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, các nghiên cứu trong nước có mối liên quan đến đề tài luận văn “Quán trị rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chỉ nhánh tỉnh Quảng Ngãi " mà tác giả nghiên cứu gồm các công trình đề cập đến các nội dung: RRTD, QTRRTD, chất lượng tín dụng, Basel II, Agribank, HKD, hộ SXKD. Các nghiên cứu liên quan đề cập đến các vấn đề trên theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, đưa đến nhiều cách nhìn nhận khác nhau về RRTD và QTRRTD nói chung và QTRRTD trong cho vay HKD nói riêng.
Điền hình như một số bài viết trên các tạp chí khoa học lĩnh vực tiền tệ, tài chính ~ ngân hàng: Tạp chí Tài chính kỳ II tháng 12/2016 của tác giả ThS. Lê Thị Hạnh “Kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel ll tại các ngân hàng thương mại Việt Nam ”, bài viết đã nêu lên những kết quả bước đầu triển khai việc áp dung Hiệp ước Basel II trong QTRRTD tại một số ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong đó có cả những kết quả tích cực và nhưng cũng còn một số hạn chế chưa khắc phục đc như: 'Về mặt tích cực: Nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR): Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một trong những tiêu chí đánh giá của Basel II về khả năng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng. Trong những năm qua, tỷ lệ an toàn vốn tối thiêu của nhiều NHTM đã cao hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Nhờ vậy, nhiều NHTM Việt Nam đã tăng cường khả năng kiểm soát tình trạng nợ quá hạn ở mức độ cho phép và đã thực hiện tốt công.
tác phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng đề xử lý rủi ro. Đây là điều rất cần thiết cho các nhà quản trị ngân hàng tại Việt Nam hiện nay. Về hạn chị ác giả cũng chỉ ra một số hạn chế như về quy trình cấp tín dụng còn nhiều bất cập từ việc Phòng khách hàng thực hiện đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay, do đó nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu dẫn đến chất lượng. công tác chưa cao hay phương pháp xếp hạng nhiều khi còn mang tính chủ quan, định tính, thiếu đồng bộ.
Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động QTRRTD va dan áp dụng các chuẩn mực quan tri rủi ro theo Hiệp ước quốc tế Basel II tại các NHTM Việt Nam gồm: Tăng cường hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong QTRRTD; Tăng cường năng lực tài chính; Xử lý các tồn đọng về tài chính bao gồm xử lý nợ xấu và thoái vốn tại các tô chức tín dụng do sở hữu chéo; Cải tiến quy trình QTRRTD trong đó quy trình quản trị 10 rủi ro phải được thực hiện đối với riêng từng rủi ro và đối với toàn bộ danh mục rủi ro. Tap chí Khoa học và Công nghệ số 1 — nim 2010, trang 36-38 của tác giả Đặng Tùng Lâm “Sứ đựng các mô hình đo lường rủi ro danh mục đầu trr tin dung dua trén khung Value at risk (VAR)", bai viét tom luge va so sinh bốn mô hình đo lường rủi ro danh mục đầu tư tín dụng dựa trên khung VaR được sử dụng phổ biến hiện tại gồm: CreditMetrics, PortfolioManager, CreditRisk+ va CreditPortfolio View và gợi ý những điểm nên xem xét khi vận dụng các mô hình này vào quản trị rủi ro tín dụng. Tap chí Khoa học công nghệ số 4 - năm 2013 của đồng tác giả Đỗ Anh. Tuấn và Phan Thị Dung “Nghiên cứu công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cô phan Sài Gòn — Hà Nội”, với mục tiêu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn - Hà Nội (NHTMCP Sài Gòn — Ha Nội) tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu các nguyên nhân, ưu nhược điểm của các yếu tố trong mô hình quản trị rủi ro tại NHTMCP Sai Gon — Ha Nội và biện pháp góp phần hạn chế RRTD để nâng cao chất lượng QTRRTD tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro này là do các nguyên nhân khách quan (sự thay đổi của nền kinh tế, chính sách nhà nước, sự tấn công của hàng nhập lậu.); từ phía người vay vốn và từ phía NHTMCP Sai Gon — Ha Nội. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp khắc phục như nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu RRTD, các biện pháp hạn chế tôn thất khi xảy ra rủi ro. Tạp chí Ngân hàng số 5 ~ năm 2014, trang 24-26 của hai tác giả Th.S Dinh Thu Hương và Th.S Phan Đăng Lưu “/oàn thiện mô hình tổ chức quản trị rủi ro tin dung tai Agribank nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế”, nội dung bài viết dé cập đến nội dung của mô hình QTRRTD. 11 theo thông lệ quốc tế và mô hình QTRRTD hiện tại của Agribank theo mô hình 3 tầng bảo vệ, chỉ rõ những đổi mới cũng như hạn chế thực tế của mô hình.
Từ đó, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp giúp hoàn thiện mô hình QTRRTD của Agribank đề đáp ứng với các chuân mực quốc tế. Mặc dù, có nhiều bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về RRTD, QTRRTD nhưng với hoạt động cho vay HKD thì gần như chưa tìm thấy bài viết nào trên các tạp chí lĩnh vực kinh tế, tiền tệ, ngân hàng nghiên cứu đầy đủ tài này. Bên cạnh đó, còn có một số luận văn tiêu của một số tác giả được công bố tại Đại học Da Nẵng liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu có thê kế đến như: Đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chỉ nhánh huyện Hòa Lang, thành phố Đà Nẵng” tác giả Lê Thị Hoàng Ni (2015), với cách tiếp cận truyền thống, luận văn đã làm rõ nội dung của một quy trình QTRRTD trong cho vay, tập trung đánh giá thực trạng QTRRTD trong cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ nhánh huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào đánh giá những nội dung đạt được và chưa đạt được của quy trình QTRRTD trong cho vay của chỉ nhánh mà chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt được của công tác QTRRTD nên các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác QTRRTD trong cho vay tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ nhánh huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng còn mang tính lý thuyết, chưa đưa ra được giải pháp trọng điểm để hoàn thiện công tác QTRRTD trong cho vay tại chỉ nhánh này.
Đề tài “Quán trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Eakar, tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Hồ Thảo Vy (2015) vẫn bằng cách tiếp cận theo hướng nội dung quy trình của công tác 12 QTRRTD từ lý luận đến thực tiễn, nhưng luận văn đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng QTRRTD trong cho vay tại chỉ nhánh. Luận văn đã chỉ ra được những điểm thuận lợi và các mặt hạn chế trong QTRRTD trong cho vay tại ngân hàng này. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QTRRTD, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay của chỉ nhánh, đưa nợ xấu về đưới mức 3%. Tuy nhiên, các giải pháp của luận văn còn mang tính tổng quát, một số giải pháp chưa đáp ứng được mục tiêu, định hướng của hoạt động QTRRTD của chỉ nhánh trong thời gian tới, điển hình như định hướng xây dựng quy trình xử lý thu hồi nợ hợp lý chưa thấy tác giả đề cập đến giải pháp hoàn thiện.
Đề tài “Quản trị rúi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại chỉ nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Easup, Đắc Lắk” của tác giả Lê Nguyên Hảo (2015). Luận văn đã có những nghiên cứu đóng góp. tương đối hoàn thiện về mặt lý luận HKD, cho vay HKD và QTRRTD trong cho vay HKD của NHTM. Đồng thời, tác giả cũng đã chỉ rõ những thành tựu đạt được và tồn tại còn vướng mắc của thực trạng QTRRTD trong cho vay HKD tại chỉ nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Easup, Đắk Lắk.
Trên cơ sở thực trạng đã phân tích, luận văn đã đề xuất nhiều giải pháp tập trung vào nội dung của quy trình quản trị nhằm hoàn thiện công tác QTRRTD trong cho vay HKD tại ngân hàng này. Tuy nhiên, một số at đưa ra còn mang tính tổng quát, chưa chỉ ra được giải pháp cụ thể áp dụng cho chỉ nhánh ví dụ như giải pháp nâng cao chất lượng của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ và nâng cao chất lượng công tác thẩm định. Đề tài “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Eakpam, Đắk Lắk” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2015). Luận văn cung cấp khá đầy đủ cơ sở lý luận về HKD và cho vay HKD, tiếp cận QTRRTD trong cho vay HKD theo.
13 hướng tập trung vào công tác kiểm soát rủi ro. Tác giả đã phân tích rõ thực trạng thực hiện kiểm soát rủi ro trong cho vay HKD tại ngân hàng này nhưng chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả đạt được của công tác kiểm soát rủi ro tín dụng mà chưa đánh giá được hết những thành công và vướng mắc cần tháo gỡ của các biện pháp kiểm soát rủi ro đang thực hiện tại chỉ nhánh. Tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay HKD tập trung vào việc tuân thủ các nguyên tắc về quy trình cho vay, kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay, các biện pháp. nâng cao chất lượng thâm định tín dụng, chất lượng công tác xử lý, thu hồi nợ.