Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn Basel II Chương 2: Thực trang quản trị rủi ro tín dụng tai ACB Da Nang theo tiêu chuân Basel II. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cho quản trị rủi ro tín dụng tai ACB Da Nẵng theo tiêu chuẩn Basel II 10 CHUONG 1 TONG QUAN VE RUI RO TIN DUNG VA QUAN TRI RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI THEO TIEU CHUAN BASEL II 1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM Co nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, theo tác giả thì múi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là những tổn thắt có thể xảy ra mà ngân hàng không lưởng trước được, trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Căn cứ theo Thông tư Số 41/2016/TT-NHNN “Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài” ban hành ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì rủi ro được phân thành các loại sau: ~ Rủi ro tín dụng: a) Rui ro tin dung là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng.
hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài. b) Rủi ro tín dụng tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dich. ~Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bắt lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường. Rủi ro thị trường bao gồm: a) Rui ro lãi suất là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trường, đối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm phái sinh lãi suất trên số kinh doanh của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài; b) Rủi ro ngoại hối là rủi ro do biến động bắt lợi của tỷ giá trên thị trường khi ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tê; "1 ©) Rai ro giá cỗ phiếu là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trên thị trường đối với giá trị của cỗ phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên số kinh doanh của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài; đ) Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến động bắt lợi của giá hàng hóa trên thị trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sản phẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài ~ Rủi ro lãi suất trên số ngân hàng là rủi ro do biến động bắt lợi của lãi suất đối với thu nhập, giá trị tài sản, giá trị nợ phải trả và giá trị cam kết ngoại bảng của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài phát sinh do: a) Chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới hoặc kỳ xác định lại lãi suất, b) Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất của các công cụ tài chính khác nhau nhưng có cùng thời điểm đáo hạn; ©) Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất ở các kỳ hạn khác nh: đ) Tác động từ các sản phâm quyền chọn lãi suất, các sản phẩm có yếu tố quyền chọn lãi suất.
~ Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tôn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý). ~ Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực vẻ uy tín của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài. ~ Rủi ro chiến lược là rủi ro đo ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài có hoặc không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh làm giảm khả năng đạt được chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong hoạt động của ngân hàng các ngân hàng phải đối mặt với nhiều 12 loại rủi ro trong đó rủi ro lớn mà các ngân hàng phải đối mặt là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và việc hiểu các thành phần rủi ro cho phép các ngân hàng có chính sách quản trị rủi ro phù hợp.
Trong các loại rủi ro. các ngân hàng phải đối mặt thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất, đây là loại rủi ro phụ thuộc cả về phía khách hàng và ngân hang (Wang, 2013). ác nhân tố dẫn đến rt tín dụng của NHTM Các nguyên nhân chính của rủi ro tín dụng đã được một số nghiên cứu khẳng định như chính sách kiểm soát, quản lý yếu kém, cho vay ở ạt, năng lực. thể é han chế, chính sách tín dụng không phù hợp, lãi suất biến động, tình trạng lỏng lẻo trong việc đánh giá tín dụng, đánh giá nợ xấu, ngân hàng nhà nước giám sát không chặt chẽ.
Tổng quan cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng bao gồm cả nguyên nhân thuộc về bên trong và bên ngoài ngân hàng. *Nhân tố từ bên ngoài Rủi ro tín dụng thường được cho là hệ quả của rủi ro hệ thống có nguồn gốc từ các góc độ vĩ mô. Rủi ro hệ thống biểu hiện cho các vấn đề tài chính lớn như sự thay đổi chính sách tiền tệ, hệ thống pháp luật, lạm phát. nó gây ra sự bắt lực của những người tham gia thị trường tài chính trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nới rộng tín dụng.
Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng cho vay. Cụ thể: Đo sự thay đổi chính sách của Chính phủ: Khi mà nền kinh tế biến động như lạm phát, thất nghiệp. thì lập tức chính phủ phải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới nên kinh tế đất nước. Các chính sách của chính phủ thường xuyên quan tim và có sự thay đổi kịp thời như là chính sách tải chính, tiền tệ, chính sách đầu tư phát triển.
Đây là những chính sách chính phủ điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại. Các chính sách vĩ mô này có ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nhân tố từ phía môi trường pháp lý: Wang, Y., “Credit risk management 13 in rural commercial banks in China”, 2013 cho rằng nguyên nhân dẫn tới sự vỡ nợ của khách hàng vay vốn từ sự chính sách pháp luật thiếu đồng bộ, từ sự yếu kém trong kinh doanh từ đó dẫn tới rủi ro tín dụng ngân hàng. kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ôn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi.
Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản. Kinh tế xã hội kém Ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, người phải trả tiền không trả được nó kéo theo những người khác bị vỡ nợ không trả được ngân hàng. AMôi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bắt ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi có thiên tai dịch hoạ xây ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu.
Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẽ rủi ro với khách hàng của minh (Wang, 2013). Môi trường kinh tế xã hội: Môi trường kinh tế xã hội trong một nước biến động chịu ảnh hưởng của những biến động từ nẻn kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nẻn kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất. Sự thay đôi các mối quan hệ quốc tế, các quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gây rủi ro cho vay của ngân hàng (Wang, 2013). “Tất cả những nhân tố trên nếu không được dự báo và có biện pháp phòng.
ngửa kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh và điều kiện kinh doanh của ngân hàng cho vay và khách hàng vay vốn. Điều này 14 được thể hiện là khi mà một người phải trả tiền do ảnh hưởng bởi yếu tố trên không trả được dẫn đến những người khác liên quan cũng không trả được. Điều này lan rộng ra khắp thị trường, nó dẫn tới việc ngân hàng không thu hồi được nợ do khách hàng vỡ nợ. *Nhân tố từ bên trong ngân hàng.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng của ngân hàng còn do nguyên nhân từ nội bộ. của ngân hàng. Một trong những nguyên nhân nội bộ của ngân hàng là thuộc. về đạo đức, trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng.
Nhân viên ngân hàng thiếu trách nhiệm, có trình độ năng lực yếu, đạo đức yếu kém dẫn tới cho vay với những doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện vay vốn có hoạt động yếu kém với những hồ sơ tín dụng có vấn đề (Wang, 2013). Điều này được khẳng định trong nghiên cứu của Allen N. Berger & Robert DeYoung, "Problem loans and cost efficiency in commercial banks", 1997 khi cho ring nợ xấu gia tăng là do sự yếu kém trong quy trình thẩm định tín dụng trước, trong và sau khi cho vay dẫn đến việc ngân hàng lựa chọn sai khách hàng cho. Ngoài ra, rủi ro tín dụng.
còn xảy ra do nhân viên ngân hàng năng lực chuyên môn, hay do đạo đức yếu. kém trong bảo đảm tiền vay không đánh giá đúng giá trị tài sản đảm bảo hoặc.