CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOAT DONG QUAN TRỊ RỦI RO TÍN DUNG 1. TÔNG QUAN VÈ RỦI RO. 111 Kh: lệm rủi ro Rui ro là một khái niệm phổ biến, hầu như ai cũng có thé biết đến phạm trù này. Tuy nhiên lại không có một quan điểm thống nhất nào về rủi ro, Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kế đến như: AllanWillett cho rằng: “Rủi ro là sự bắt trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cỗ không mong đợi” [4, tr3], quan điểm này nhận được sự. ủng hộ của một số học giả như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell,. Trong một nghiên cứu của JohnHaynes, và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của IrvingPfeffer thì rủi ro là: “Kha năng xảy ra tồn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường, được bằng xác suất” [4, tr3] Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Erank H. Knight khi ông cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được” |4, tr4].
Cuốn Kinh tế học hiện đại của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng có đề cập đến quan điểm này. Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thê thấy rằng nó cùng. đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn. Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn.
Và kết quả này có thể đem lại tôn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro” [4, tr]. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro luôn luôn tồn tại và bản thân mỗi ngân hàng không thể triệt tiêu rủi ro mà phải đương đầu với rủi ro. Có nhiều cách phân chia rủi ro của NHTM. Theo Uy ban Basel (1999) cho rằng rủi ro của các tổ chức tài chính được phân thành tám loại: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng.
Theo Bessis (2002) các ngân hàng phải đôi mặt với các loại rủi ro: Rủi ro hồi đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường. và rủi ro khác. ~ Rủi ro hối đoái: Rủi ro hồi đoái là khả năng xảy ra những tôn thất mà ngân hàng phải chịu khi tỷ giá hối đoái thay đôi vượt quá thay đổi dự tính. Tỷ giá hối đoái thường xuyên dao động, sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của ngân hàng tạo ra thi nhập thăng dư hoặc thâm hụt tạm thời.
Tuy nhiên, những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng. ~ Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tôn thất khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính của ngân hàng. Lãi suất của ngân hàng (cả lãi suất huy. động và lãi suất cho vay) thường xuyên biến động với mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn thất.
Rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng có liên quan chặt chẽ với nhau. ~ Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến. Rủi ro thanh khoản làm gia tăng các chỉ phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản như phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, hoặc làm cho ngân hàng mắt khả năng thanh toán. 12 ~ Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả nợ đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
Rủi ro tín dụng ở hai góc độ là rủi ro từ huy đông vốn và rủi ro trong cho vay. ~ Các rủi ro khác: Ngoài các loại rủi ro ở trên thì còn có các loại rủi ro. khác như rủi ro thị trường, rủi ro lệch hạn, rủi ro tính thanh khoản thị trường, rủi ro hoạt động. Như vậy, trong hoạt động của ngân hàng các ngân hàng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro trong đó rủi ro lớn mà các ngân hàng phải đối mặt là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối và việc hiểu các.
thành phần rủi ro cho phép các ngân hàng có chính sách quản trị rủi ro phù hợp. Trong các loại rủi ro các ngân hàng phải đối mặt thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất, đây là loại rủi ro phụ thuộc cả về phía khách hàng. và ngân hàng, 1. TONG QUAN VE TiN DUNG 1.
Nhận thức chung về tín dụng của ngân hàng thương mại Theo Luật các tô chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 thì tại điểm 14 điều 4, hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng được hiểu là “việc (hóa. thuận để tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sứ dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chỉ khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cáp tín dụng khác "[I, tr6] Trong giáo trình *Ngân hàng thương mại”, PGS.TS Phan Thị Hà Thu nêu lên khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại: “Quan hệ tin dung giữa một bên là ngân hàng thương mại với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp của nền kinh tế, trong đó, ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian, vừa là người đi vay, vừa là người cho vay” [2, trì 1]. 'Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về tin dụng NHTM là "quan hệ 13 tín dụng giữa một bên là ngân hàng thương mại với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp của nền kinh tế, trong đó, ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian, vừa là người đi vay, vừa là người cho vay” [2, trì 1] Sở đĩ nói ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người do vay là xuất phát từ bản chất trung gian của ngân hàng, cụ thể việc ngân hàng là cầu nối giữa “nơi” có vốn nhàn rỗi và “nơi” cần vốn cho các hoạt động, nhu cầu của mình. Ngân hàng sẽ vay tiền của cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động huy động vốn và đem nguồn tiền huy động được này cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu.
vay lại Tín dụng NHTM cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng. đôi bên cùng có lợi. Tín dụng ngân hàng khác với các loại hình tín dụng khác là ngân hàng. cho khách hàng vay từ nguồn vốn nhận gửi từ dân cư, các doanh nghiệp, các tô chức khác.
và hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Tin dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Vì vậy tín dụng ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản.2 — Tín dụng khách g doanh nghi¢p a. Kha mm tín dụng khách hàng doanh nghiệp Căn cứ vào khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại, có thể hiểu tín dụng doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại “ld quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng hàng thương mại với doanh nghiệp, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng doanh nghiệp một khoản tiền dé sit dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cá gốc và lãi” [2, tr13] 14 Khác với cá nhân có mục đích vay vốn đa dang, trong đó có nhu cầu tiêu dùng cá nhân thì mục đích vay vốn của doanh nghiệp là phục vụ cho hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh.
Cụ thể mục đích đi vay của doanh nghiệp thường là để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới, đầu tư khác hay bỗ sung vốn lưu động. Vì là doanh nghiệp nên những khoản cho vay tương đối lớn, tùy theo quy mô và mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp thì khoản vay được tài trợ từ phía tổ chức tài chính tin dụng sẽ khác nhau. Vì vậy, quá trình thấm định khoản vay sẽ kỹ càng hơn, quy trình và giấy tờ cần thiết nhiều hơn nếu doanh nghiệp cần khoản vay lớn hơn. Phân loại tín dụng khách hàng doanh nghiệp ~_ Theo thời gian sử dụng vốn vay, tin dụng được phân thành 2 loại sau: Tín dụng ngắn hạn; tín dụng trung hạn và dài hạn.
~_ Căn cứ vào tỉnh chất đảm báo của các khoản cho vay, có các loại tín tín dụng sau: Cho vay trả góp, cằm có, thế chấp. ~_ Theo phương thức cho vay thì có: Cho vay từng lần, cho vay theo hạn. mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay theo hạn mức thấu chỉ, bao thanh toán, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay hợp vốn, bảo lãnh ngân hàng. ~ Theo quy mô doanh nghiệp vay vốn: Có cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho doanh nghiệp lớn.
eĐặc lễm của tín dụng khách hàng doanh nghiệp ‘Tin dụng doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau: - Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp. xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh nghiệp sản xuất cà phê, cao su. ~Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản 15 xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đồi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rắt lớn.
~ Thủ tục va quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý. của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân.