Tổng quan nghiên cứu

Năm 2019 ghi nhận một biến cố tài chính chưa từng có trong lịch sử hơn 20 năm hoạt động của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ngãi (Vietcombank Quảng Ngãi), khi đơn vị này báo lỗ kinh doanh lên tới 169,7 tỷ đồng sau khi phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng kỷ lục 385,8 tỷ đồng. Sự gia tăng đột biến của nợ xấu đã khiến kết quả xếp hạng chi nhánh tụt dốc nghiêm trọng từ hạng 1 năm 2019 xuống hạng 3 vào năm 2020.

Vấn đề cốt lõi phát sinh từ công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với phân khúc khách hàng cá nhân, đặc biệt tại khu vực kinh tế biển khi nợ cần chú ý (nhóm 2) chiếm 87,3% (tương đương 151 tỷ đồng) và nợ xấu chiếm tới 90,4% (tương đương 123 tỷ đồng) trên tổng số nợ quá hạn của toàn đơn vị. Luận văn tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tại các ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng quản lý nợ vay cá nhân giai đoạn 2017 đến tháng 6 năm 2020, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm ngăn chặn tổn thất tài chính.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với mạng lưới phục vụ hơn 250.000 khách hàng và quy mô tổng dư nợ vượt 12.000 tỷ đồng. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc thiết lập trần nợ xấu dưới ngưỡng an toàn 3%, tối ưu hóa nguồn vốn huy động cá nhân 4.421 tỷ đồng và khôi phục hiệu quả kinh doanh bền vững cho ngân hàng trong giai đoạn 2021-2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận nền tảng về tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại theo quy chuẩn pháp lý tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN và Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Về mặt phân loại, rủi ro tín dụng được tiếp cận dưới hai góc độ: rủi ro giao dịch (bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ) và rủi ro danh mục (bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung).

Khung đánh giá định tính của luận văn dựa trên mô hình 6C chuẩn mực để đo lường mức độ tin cậy và năng lực trả nợ của khách hàng cá nhân qua 6 thành tố: Tư cách người vay (Character), Năng lực tài chính (Capacity), Dòng tiền trả nợ (Cashflow), Tài sản bảo đảm (Collateral), Điều kiện kinh tế xã hội (Conditions) và Khả năng kiểm soát pháp lý (Control).

Về mô hình định lượng, tác giả tích hợp mô hình điểm số Z của Edward Altman với ngưỡng cảnh báo nguy cơ vỡ nợ dưới 1,81; mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng (Consumer Credit Scoring Model) ứng dụng từ 7 đến 12 tiêu chí chấm điểm theo thang bậc từ 1 đến 10; hệ thống phân loại 9 bậc chất lượng nợ của Moody's và Standard & Poor's từ hạng AAA đến hạng C; cùng các nguyên lý quản trị rủi ro hiện đại theo Hiệp ước Basel II bao gồm việc xác định xác suất vỡ nợ PD, tỷ lệ tổn thất khi vỡ nợ LGD và tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ EAD.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài là dữ liệu thứ cấp thu thập trực tiếp từ các báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên, sổ sách thống kê phân loại nợ và kết quả hoạt động kinh doanh nội bộ tại Vietcombank Quảng Ngãi giai đoạn 2017 đến tháng 6 năm 2020, bao quát quy mô vốn huy động hơn 11.000 tỷ đồng và tổng dư nợ trên 12.000 tỷ đồng.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% dữ liệu hồ sơ tín dụng khách hàng cá nhân đang vay vốn tại 8 phòng nghiệp vụ và 6 phòng giao dịch trên toàn địa bàn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích kết hợp khảo sát hồi cứu toàn bộ các khoản vay phát sinh nợ quá hạn và nợ xấu (với 151 tỷ đồng nợ nhóm 2 và 123 tỷ đồng nợ xấu thuộc lĩnh vực kinh tế biển).

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian ngang - dọc và phương pháp phân tổ thống kê. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác sự dịch chuyển cơ cấu nợ, phân tích tương quan giữa chi phí dự phòng và lợi nhuận ròng, đồng thời làm rõ tác động từ chính sách giảm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 45% xuống 40% theo Thông tư 19/2017/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ năm 2017 đến hết tháng 6 năm 2020 và hoàn thiện nghiệm thu vào đầu năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư luôn đóng vai trò trụ cột nhưng có xu hướng giảm nhẹ về tỷ trọng trong cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh. Năm 2017, tiền gửi cá nhân đạt 3.572 tỷ đồng, chiếm 69% tổng nguồn vốn huy động (5.407 tỷ đồng); năm 2018 đạt 3.645 tỷ đồng, chiếm 66% (tổng nguồn 5.892 tỷ đồng); năm 2019 đạt 4.178 tỷ đồng, chiếm 65% (tổng nguồn 7.090 tỷ đồng); và đạt 4.421 tỷ đồng vào 6 tháng đầu năm 2020. Tỷ trọng huy động vốn cá nhân ổn định quanh mức 65% đến 69% phản ánh sự tin tưởng của người dân nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải có chính sách cạnh tranh lãi suất linh hoạt.

Thứ hai, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt là nguyên nhân trực tiếp làm xói mòn toàn bộ lợi nhuận hoạt động. Trong khi chi phí dự phòng năm 2017 chỉ là 35,2 tỷ đồng và năm 2018 là 40,2 tỷ đồng, thì đến năm 2019 con số này đã tăng vọt lên mức 385,8 tỷ đồng (gấp gần 10 lần), kéo lợi nhuận thuần sau dự phòng từ mức lãi 190,9 tỷ đồng năm 2018 xuống mức âm kỷ lục 169,7 tỷ đồng năm 2019.

Thứ ba, rủi ro tín dụng mang tính chất tập trung cực đoan vào phân khúc khách hàng cá nhân kinh tế biển. Cụ thể, nợ nhóm 2 của khu vực kinh tế biển ghi nhận mức 151 tỷ đồng, chiếm 87,3% tổng nợ nhóm 2 toàn chi nhánh; nợ xấu của khu vực kinh tế biển đạt 123 tỷ đồng, chiếm tới 90,4% tổng nợ xấu của toàn đơn vị.

Thảo luận kết quả

Về nguyên nhân chủ quan, giai đoạn 2016-2017 chi nhánh tập trung tăng trưởng tín dụng quá nhanh vào ngành đánh bắt khai thác thủy sản nhưng thiếu quy trình kiểm soát rủi ro tập trung. Mô hình quản lý rủi ro tại chi nhánh chưa tách bạch độc lập với bộ phận kinh doanh, dẫn đến xung đột lợi ích. Đội ngũ cán bộ tín dụng chạy theo chỉ tiêu doanh số, thiếu kỹ năng thẩm định thực tế dòng tiền và đánh giá chưa đầy đủ 6 khía cạnh trong mô hình 6C.

Về nguyên nhân khách quan, ngành khai thác hải sản chịu ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai, bão lũ, biến động giá xăng dầu và sự sụt giảm nguồn lợi thủy sản khiến ngư dân mất khả năng trả nợ. Thêm vào đó, việc Ngân hàng Nhà nước siết tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 45% xuống 40% theo Thông tư 19/2017/TT-NHNN đã gây áp lực thanh khoản lớn lên các hộ kinh doanh cá thể.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu kinh tế của Abhiman Das và Saibal Ghosh (2007) cũng như phân tích của các chuyên gia tài chính tại Việt Nam, khẳng định việc nới lỏng chuẩn thẩm định trong môi trường cạnh tranh khốc liệt sẽ tạo ra tổn thất nợ xấu lớn sau chu kỳ 2 đến 3 năm. Để tăng tính trực quan, các dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường thể hiện mối quan hệ nghịch chiều giữa mức tăng vọt của chi phí dự phòng rủi ro và sự suy giảm lợi nhuận ròng giai đoạn 2017 đến tháng 6 năm 2020, cùng bảng phân tổ ma trận nợ quá hạn theo ngành nghề và thời hạn vay.

Đề xuất và khuyến nghị

Tái cấu trúc tổ chức và thành lập phòng quản lý rủi ro tín dụng độc lập: Ban lãnh đạo chi nhánh cần thực hiện tách bạch hoàn toàn chức năng quản lý rủi ro khỏi khối kinh doanh bán lẻ ngay trong quý 1 năm 2021. Đơn vị này do một thành viên Ban Giám đốc không trực tiếp phụ trách doanh số chỉ đạo, chịu trách nhiệm tái thẩm định độc lập 100% hồ sơ vay vốn cá nhân có quy mô từ 1 tỷ đồng trở lên và báo cáo trực tiếp về Khối Quản lý rủi ro tại Hội sở chính.

Thiết lập cơ chế kiểm soát hạn mức phân quyền gắn liền với trần nợ xấu: Ban điều hành Vietcombank cần ban hành quy chế tự động giảm 30% đến 50% hạn mức phê duyệt tín dụng của Giám đốc chi nhánh và các Trưởng phòng giao dịch khi tỷ lệ nợ xấu cá nhân của bộ phận vượt ngưỡng cảnh báo 3% tổng dư nợ. Áp dụng quy chế thưởng phạt minh bạch gắn liền trách nhiệm cá nhân của cán bộ tín dụng và cấp phê duyệt trong suốt giai đoạn 2021-2023.

Hoàn thiện công cụ tài trợ rủi ro và tăng tốc xử lý nợ tồn đọng: Triển khai quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm bảo an tín dụng đối với 100% khoản vay tín chấp cá nhân nhằm bảo đảm nguồn trả nợ khi xảy ra biến cố bất khả kháng. Song song đó, chi nhánh cần phối hợp chặt chẽ với Công ty Quản lý tài sản VAMC để bán các khoản nợ có vấn đề và đẩy mạnh khởi kiện tố tụng đối với các khoản nợ khó đòi quá hạn trên 360 ngày nhằm mục tiêu thu hồi tối thiểu 45 tỷ đồng nợ xấu trong năm 2021.

Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng: Tổ chức định kỳ các khóa đào tạo thẩm định dòng tiền theo chuẩn Basel II với thời lượng tối thiểu 40 giờ đào tạo mỗi năm cho 100% cán bộ tín dụng. Đồng thời, chuẩn hóa hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ từ 7 đến 12 tiêu chí tài chính và phi tài chính phù hợp với đặc thù kinh tế biển giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại: Nắm bắt giải pháp tổ chức bộ máy quản trị rủi ro độc lập và cơ chế kiểm soát nợ xấu dưới ngưỡng 3% để áp dụng thực tế cho mạng lưới hơn 100 chi nhánh trên toàn quốc.

Chuyên viên tín dụng và thẩm định tài sản khách hàng cá nhân: Vận dụng quy trình nhận diện dấu hiệu rủi ro sớm theo mô hình 6C, kỹ năng thẩm định thực tế dòng tiền và định giá tài sản bảo đảm nhằm sàng lọc hiệu quả danh mục hơn 250.000 khách hàng tiềm năng.

Các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Trung tâm CIC: Tiếp cận nguồn số liệu thực chứng về rủi ro cho vay kinh tế biển để hoàn thiện cơ chế tái cấp vốn giá rẻ và nâng cao hiệu quả giám sát dữ liệu tín dụng liên ngân hàng trong giai đoạn 2021-2025.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh - Tài chính ngân hàng: Sử dụng khung phân tích tích hợp giữa mô hình định tính 6C, mô hình định lượng Z của Altman (ngưỡng 1,81) và dữ liệu thực nghiệm tại địa bàn Quảng Ngãi làm tài liệu tham khảo học thuật chất lượng cao cho các công trình nghiên cứu sau đại học.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân trực tiếp nào dẫn đến khoản lỗ 169,7 tỷ đồng của Vietcombank Quảng Ngãi trong năm 2019? Nguyên nhân trực tiếp là chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng vọt lên mức kỷ lục 385,8 tỷ đồng năm 2019 (tăng gấp gần 10 lần so với 35,2 tỷ đồng năm 2017). Phần lớn tổn thất phát sinh từ việc phân loại nợ xấu tăng cao ở nhóm khách hàng cá nhân kinh tế biển khi các phương án vay vốn đóng tàu gặp khó khăn.

Vì sao nợ xấu của chi nhánh lại tập trung đột biến ở khu vực kinh tế biển? Trong giai đoạn 2016-2017, chi nhánh đẩy mạnh cho vay khai thác thủy sản nhưng thiếu quy trình kiểm soát rủi ro tập trung. Đến năm 2019, thiên tai và giá nhiên liệu biến động khiến ngư dân mất khả năng trả nợ, dẫn đến nợ nhóm 2 kinh tế biển chiếm 87,3% (151 tỷ đồng) và nợ xấu chiếm 90,4% (123 tỷ đồng) toàn chi nhánh.

Luận văn đã kết hợp các mô hình lý thuyết nào để đo lường rủi ro tín dụng? Tác giả đã tích hợp mô hình định tính 6C đánh giá toàn diện khách hàng với mô hình định lượng điểm số Z của Altman (ngưỡng 1,81) và mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng 7 đến 12 chỉ tiêu. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng các tham số chuẩn Basel II như xác suất vỡ nợ PD và tổn thất khi vỡ nợ LGD.

Giải pháp tổ chức bộ máy nào giúp loại bỏ xung đột lợi ích trong quản trị rủi ro? Luận văn đề xuất thành lập phòng quản lý rủi ro tín dụng độc lập khỏi khối kinh doanh bán lẻ từ năm 2021. Đơn vị này do một thành viên Ban Giám đốc không phụ trách doanh số quản lý và báo cáo thẳng về Hội sở chính, bảo đảm tính khách quan tuyệt đối trong việc thẩm định và phê duyệt khoản vay.

Chính sách phân cấp phê duyệt cần điều chỉnh như thế nào khi nợ xấu tăng cao? Hội sở chính cần áp dụng cơ chế tự động hạ hạn mức phán quyết của Giám đốc chi nhánh khi tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng an toàn 3%. Đồng thời, chi nhánh cần phân loại thẩm quyền theo từng ngành nghề rủi ro và bắt buộc 100% khoản vay không có tài sản bảo đảm phải mua bảo hiểm tín dụng.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quản trị rủi ro tín dụng cá nhân giai đoạn 2017 đến tháng 6 năm 2020 tại Vietcombank Quảng Ngãi, bóc tách nguyên nhân khoản lỗ 169,7 tỷ đồng năm 2019 do nợ xấu kinh tế biển chiếm 90,4%.
  • Hệ thống hóa khung lý luận quản trị rủi ro kết hợp giữa mô hình định tính 6C, mô hình điểm số Z của Altman và định hướng triển khai chuẩn mực Basel II.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ gồm tách bạch phòng rủi ro độc lập, siết hạn mức phê duyệt nợ xấu trần 3%, mở rộng bảo hiểm bảo an tín dụng và đào tạo cán bộ 40 giờ mỗi năm.
  • Đưa ra các kiến nghị vĩ mô với Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cấp hệ thống dữ liệu tín dụng CIC và cung ứng nguồn vốn hỗ trợ kinh tế biển cho giai đoạn 2021-2025.
  • Xác lập định hướng chiến lược giúp chi nhánh bảo toàn an toàn nguồn vốn huy động 4.421 tỷ đồng từ dân cư và phục hồi xếp hạng tín dụng bền vững.

Công trình nghiên cứu mang lại đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Các nhà quản trị tài chính và cán bộ tín dụng nên tham khảo và triển khai ngay mô hình quản trị rủi ro độc lập này từ quý 1 năm 2021 để tối ưu hóa an toàn danh mục cho vay.